Đặt vấn đề Hoa lan được con người biết đến rất sớm từ 2.800 năm TCN, nó được coi một trong những đỉnh cao tiến hóa của các loài hoa. Hiện nay trên thế giới với 800 chi và 25.000 loài, họ Lan (Orchidaceae) chiếm vị trí thứ hai sau họ Cúc (Asteraceae) trong ngành thực vật hạt kín. Vì vậy hình thái, cấu tạo cũng như hệ thống phân loại của họ này rất đa đa dạng và phức tạp. Việt Nam là quốc gia được đánh giá có sự đa dạng sinh học phong phú, phong lan Việt Nam đa dạng về số loài, màu sắc và chủng loại với trên 140 loại phong lan chia ra thành 1000 giống nguyên thủy.
Chúng thường phân bố ở các vùng rừng núi Cao Bằng, Sa Pa, Lào Cai, Huế, Hải Vân, Quy Nhơn, Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuật, Phan Rang, Đà Lạt, Di Linh, v. Trong số các loài lan của Việt Nam có rất nhiều cây quý hiếm điển hình là giống lan Bạch Cập (Bletilla striata) Lan Bạch Cập (Bletilla striata) thuộc họ lan Orchidaceae là một trong những họ lớn nhất và cũng mang nhiều giá trị kinh tế, khoa học. Lan Bạch Cập (Bletilla striata) có phạm vi phân bố hẹp chỉ có ở một số tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam như Cao Bằng, Lạng sơn, Lào Cai. Hoa lan không với tác dụng làm đẹp, đồng thời cũng là một dược liệu thiên nhiên để hỗ trợ cho nhiều căn bệnh.
Trong thời gian gần đây, các nhà khoa học đã nghiên cứu nhằm tạo ra được giống lan có chất lượng cao, cho năng suất và phẩm chất tốt mà giá thành hợp lý để triển khai vào sản xuất ở quy mô thương mại. Vì thế ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất là cần thiết. Đặc thù riêng của lan Bạch Cập là cây sinh trưởng chậm, tỷ lệ nảy mầm của hạt trong tự nhiên thấp ,vì vậy việc nghiên cứu nhân giống Bạch Cập rất được chú trọng nhằm mục đích thương mại và bảo tồn nguồn gen thực vật h 2 quý hiếm. Trước đây các nhà nghiên cứu đã tiến hành nhân giống các loài lan Bạch Cập bằng nhiều phương pháp khác nhau như gieo hạt, tách mầm nhưng những phương pháp này vẫn còn nhiều nhược điểm như chất lượng cây thấp, không đồng đều và số lượng cây ít.
Để khắc phục được điều này, phương pháp nhân giống in vitro đã ra đời nhằm khắc phục những hạn chế trên. Phương pháp này cho số lượng cây lớn, chất lượng cao, đồng đều và sạch bệnh, đây là điều mà phương pháp truyền thống không thực hiện được. Hiện nay nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro đang phát triển mạnh mẽ có thể tạo ra số lượng cây con lớn, sạch bệnh, ổn định về mặt di truyền trong một thời gian ngắn và đáp ứng được giá cả phải chăng của thị trường được coi là một giải pháp lý tưởng mà không thể thay thế được Xuất phát từ thực tiễn đó mà chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu nhân giống lan Bạch Cập (Bletilla striata) từ hạt bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào”. Mục đích nghiên cứu - Xác định được một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng nhân nhanh lan Bạch Câp từ hạt như: HgCl2 , BAP, kinetin, IBA, nước dừa.
Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hưởng HgCl2 tới khả năng tạo vật liệu vô trùng - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số môi trường đến khả năng nảy mầm của hạt lan Bạch Cập. - Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ nước dừa tới khả năng nhân nhanh chồi - Nghiên cứu ảnh hưởng của BAP va kinetin đến khả năng nhân nhanh chồi - Nghiên cứu ảnh hưởng của IBA đến khả năng ra rễ h 3 1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu xác định được môi trường thích hợp cho nhân giống lan Bạch Cập bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật, đánh giá được ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng, thành phần môi trường nuôi cấy, bổ sung thêm dữ liệu cho việc nghiên cứu các loại cây lan khác.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu sẽ cố gắng cung cấp được số lượng cây giống có chất lượng cao, đồng đều cho sản xuất. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Nguồn gốc và phân loại phong lan Trên khắp trái đất, hầu như nơi nào có thực vật là có phong lan. Tuy nhiên số lượng nhiều ít khác nhau.
Ở Columbie có trên 3000 loài, khoảng 100 loài ở Mỹ và Alasca chỉ có 14 đến 15 loài. Mỗi loài có một cách phân bố và phát triển rất riêng biệt cho kiểu dáng và kích cỡ của cây lan khác nhau rất nhiều, sự khác biệt đó không chỉ vì xuất xứ từ các lục địa khác nhau mà còn có khi ở ngay trong một vùng địa lý vài kilomet vuông. Hoa phong lan là một họ rất lớn thuộc lớp đơn tử diệp, phân bố khắp nơi trên thế giới, nhưng phong phú nhất ở các rừng ẩm nhiệt đới, các vùng Đông Nam Á và Trung Mỹ. Họ lan phân bố từ 68 độ bắc tới 56 độ vĩ nam.
Ở vùng ôn đới, ta gặp nhiều loài sống ở đất như địa lan, một số loài hoại sinh không diệp lục và sống vào chất mục nát trong đất. Có loài ở châu Úc có thể sống ngầm dưới đất như nấm. Ở vùng nhiệt đới ta sẽ gặp nhiều loại phụ sinh sống trên cây khác như cattleya, oncidium, laelia tập trung nhiều ở vùng Trung Mỹ, ở Đông Nam Á đặc sắc nhất là Denbrodium và còn có Cypripedium, Phalaenopsis, Cymbidium có nguồn gốc ở Inđônêsia. Cây lan có thể chia thành hai nhóm: Nhóm đơn thân và nhóm đa thân * Nhóm đơn phân chia làm hai nhóm phụ: - Nhóm phụ lá mọc đối (Sarcanthinae): Nhóm này lá được xếp thành hai hàng mọc đối nhau.
Gồm các giống như: Vanda, Aerides, Phalaenopsis. - Nhóm phụ lá dẹp thẳng hay tròn (Campylocentrinae): Papilionanthe, Luisia. h 5 * Nhóm đa thân: Gồm những cây tăng trưởng liên tục. Căn cứ vào cách ra hoa nhóm này chia thành hai nhóm phụ: - Nhóm ra hoa phía trên như: lan Kiếm (Cymbidium), lan Hoàng Thảo (Dedrobium), lan Vũ Nữ (Oncidium).
- Nhóm ra hoa ở đỉnh: Cát Lan (Cattleya),chi Trúc Lan (Epidendrum). Cây hoa Phong Lan có tên khoa học là Orchidaceae. Theo hệ thống học thực vật mới nhất, cây hoa Lan được phân loại như sau: • Giới : plaltae • Nghành: Magnolyophyta • Lớp: Liliospida • Bộ: Asperagales • Phân họ: Orchidaceae Phong lan là họ sống phụ ( bì sinh) bám , treo lơ lửng trên các thân gỗ khác, lan có hai loại thân : đa thân và đơn thân. Đa số củ giả đều có màu xanh bóng nên cùng với lá nó làm nhiệm vụ quang hợp.
Lá rất đa dạng, từ loại lá mỏng tới loại lá phiến mỏng. Đặc điểm sinh vật học của cây hoa phong lan - Thân [6];[8];[11]: lan có hai loại thân: Đa thân và đơn thân. Đa thân đại diện các chi lan Kiếm (Cymbideam), chi lan Hài (paphiopeclilum), chi Cát Lan (Cattleya),. Đơn thân các chi lan Vanda, Hồ Điệp (Phaleanopsis), Phượng vĩ (Renanthera), Giáng hương (Aerides) Củ giả: có hình cầu hoặc hình thuôn dài xếp sát nhau hoặc rải rác đều hoặc hình trụ xếp chồng chất lên nhau thành một thân giả.
Củ giả gồm nhiều mô mềm chứa nhiều dịch nhầy, phía ngoài là lớp biểu bì với vách tế bào dày , nhẵn bóng bảo vệ tránh sự mất nước do ánh sáng mặt trời. Đa số củ giả đều có màu xanh bóng nên cùng với nó là làm nhiệm vụ quang hợp [8];[11] h 6 - Căn hành ( thân, rễ): chỉ gặp ở lan đa thân, căn hành là nơi cấu tạo các cơ quan dinh dưỡng mới, trên căn hành có nhiều mắt sống, chết. Mắt lá nơi hình thành cũng mang rất nhiều rễ để nuôi sống cây lan [8];[11] - Rễ: đa số rễ của các loài lan có lớp mô xốp màu trắng ngà với nhiều công dụng khác nhau như: bảo vệ nguồn dẫn nước bên trong của rễ, hút nước và các muối khoáng bám trên bề mặt rễ và hấp thụ cả hơi nước trong không khí ẩm, chúng có khả năng bám chạt vào các vật mà chugn1 tiếp xúc. Ruột của rễ các loại lan là một sợi dây rất chắc và khá dài như sợi cước, chính vì vậy rễ lan đảm bảo cho cây lan có thể bám chắc chăn trên ngọn cây cao hay trên vách núi mà không sợ bị gió cuốn đi.
Miền chóp rễ có chứa các chất diệp lục nên rễ cũng làm phần chức năng quang hợp của lá [1];[8];[11]. - Lá : đa số các loài phong lan lá cây tự dưỡng, nó phát triễn đầy đủ hệ thống lá. Hình dạng cảu lá thay đổi rất nhiều từ loại lá mọng nước đến lá phiến mỏng, phiến lá trải rộng khắp hay gấp lại theo gân vòng cung hay chỉ gấp lại theo gân hình chữ V. Màu sắc lá thường xanh bóng nhưng có trường hợp hai mặt lá màu khác nhau, thường màu lá dưới có màu xanh đậm hay tía, mặt trên lại khảm nhiểu màu sắc sặc sỡ [5];[8];[11].
- Hoa: đối xứng qua một mặt phẳng, bên ngoài có 6 cánh, trong có 3 cánh dài ở ngoài cùng, thường có màu sắc và kích thước giống nhau. Một cánh dài nằm phía trên hay phía sau của hoa gọi là cánh đài lý, 2 cánh dài nằm 2 bên gọi là cánh đài cạnh. Nằm kề bên trong và xen kẽ với 3 cánh đài là 3 cánh hoa. Chúng giồng nhau về hình dáng, kích thước , màu sắc.
Cánh còn lại nằm phái trên hay phái dưới có màu sắc và hình dạng khác hẳn với các cánh còn lại gọi là cánh môi, cánh môi quyết định giá trị thầm mĩ của lan. Ở giữa hoa có một trụ nổi lên bộ phận sinh dục của cây, giúp cây duy trì nòi giống. Trụ gồm nhiều nhụy và nhị, sau khi thụ phấn các cánh hoa héo, cuống hoa hình thành quả lan [4];[8];[11]. h 7 - Quả và hạt: quả lan thuộc loại quả nang, nở ra theo 3-4 đường nứt dọc, quả có dạng cài dài đến hình trụ ngắn phình ở giữa.
Khi chín quả nở ra và mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía dỉnh và phái gốc[8];[11]. Hạt lan rất nhiều, hạt nhỏ li ti. Hạt chỉ cấu tạo bởi một lớp chưa phân hóa, trên một mạng lưới nhỏ, xốp, chứa đầy không khí. Hạt trưởng thành sau 2-18 tháng.
Hạt phong lan không có nội nhũ nên khó phát triển thành cây. Các loài lan rừng chủ yếu nhờ nấm để phát triển thành cây[8];[11]. Một số kết quả nghiên cứu về nhân giống của hoa phong lan bằng phương pháp nuôi cấy mô.