Đặt vấn đề Cây Dâu tây (Fragaria vesca L.) thuộc họ hoa hồng (Rosaceae) [4], được trồng đầu tiên ở châu Âu cuối thế kỷ XV, là kết quả của sự lai ghép giống F. chiloensis duch và F. Là loài cây thân thảo, quả giả do nhiều quả đóng tập hợp trên đế hoa lồi nạc, mọng nước [9]. Quả có vị ngọt, chua se, tính mát, cung cấp nhiều loại vitamin cần thiết cho cơ thể con người như vitamin A, B1, B2 và đặc biệt là lượng vitamin C khá cao, hơn cả cam, dưa hấu.
Ngoài ra còn có tác dụng lợi tiểu, chữa sỏi tiết niệu, dùng làm rượu bổ [6]. Cây Dâu tây được trồng trên đất ở nhiều nước trên khắp thế giới, đồng thời cây Dâu tây cũng được sản xuất trong nhà kính bằng công nghệ nhân giống vô tính bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào là một trong những phương pháp nhân giống vô tính với những ưu điểm nổi trội là: Cho hệ số nhân giống rất cao, sản xuất quanh năm không phụ thuộc vào mùa vụ, cần ít diện tích sản xuất và vật liệu nhân giống ban đầu, cây giống sản xuất hoàn toàn sạch bệnh, đồng nhất về mặt di truyền, việc vận chuyển cây giống đi xa thuận tiện, tổn thất ít, chất lượng cây được đảm bảo do đó đáp ứng được các yêu cầu về sản xuất cây giống với số lượng mang tính công nghiệp. Ở nước ta, Dâu tây còn mới mẻ so với những cây trồng khác và là một loại cây trồng có giá trị kinh tế đang được chú ý phát triển hiện nay. Đây cũng là một loại cây trồng tiềm năng và được trồng chủ yếu ở Đà Lạt (Lâm Đồng) và một số tỉnh phía Bắc.
Cây có thể nhân giống bằng nhiều cách như gieo hạt, tách chồi, tách thân bò, giâm hom. Các phương pháp này cho hệ số nhân giống thấp, cây không đồng đều và hiệu quả thấp. Trong những năm gần đây, nhằm tạo ra các giống cây trồng chất lượng tốt, không phụ thuộc vào mùa vụ, nhiều địa phương trong cả nước đã ứng dụng phương pháp giâm hom vào công tác nhân giống. Tuy nhiên phương pháp này cho kết quả không cao ở nhiều đối tuợng cây trồng và không đáp ứng số lượng lớn cây giống [11].
Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu nhân giống cây Dâu tây (Fragaria vesca L.) bằng phương pháp nuôi cấy mô ”. Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu khả năng nhân giống cây Dâu tây (Fragaria vesca L.) bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào. Yêu cầu của đề tài - Nghiên cứu được ảnh hưởng riêng rẽ và kết hợp của một số chất điều tiết sinh trưởng (Kinetin, BAP, IAA, IBA) đến khả năng nhân nhanh chồi. - Nghiên cứu được ảnh hưởng của nồng độ IBA và NAA đến khả năng ra rễ của cây.
- Nghiên cứu ảnh hưởng một số loại giá thể đến sinh trưởng phát triển của cây ngoài vườn ươm. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu + Giúp sinh viên củng cố lại kiến thức đã học và nghiên cứu khoa học + Thông qua đề tài, tìm hiểu được vai trò của một số chất điều tiết sinh trưởng đối với quá trình tái sinh, nhân nhanh và tạo rễ cho chồi của cây. + Biết được phương pháp nghiên cứu một vấn đề khoa học, xử lí và phân tích số liệu, biết cách trình bày một báo cáo khoa học. - Ý nghĩa thực tiễn + Cung cấp cho công tác nuôi cấy mô các môi trường nuôi cấy tối ưu cho quá trình nhân chồi, tạo cây hoàn chỉnh trong phòng thí nghiệm và phát triển của cây ngoài vườn ươm.
+ Tạo tiền đề cho việc sản xuất số lượng lớn cây giống có chất lượng cao, đồng đều cho sản xuất. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu và phân loại 2. Nguồn gốc Cây Dâu Tây có tên khoa học là Fragaria vesca L., là kết quả của sự lai ghép giống F.
chiloensis duch và F. Xuất sứ từ châu Mỹ và được các nhà làm vườn châu Âu lai tạo thế kỷ 18 và tạo ra giống dâu ngày nay. Cuối thế kỷ XVI, ba loài của Châu Âu được ghi nhận là Fragaria vesca, Fragaria moschata và Fragaria viridis [17]. Người Anh gọi là "Strawberry", người Pháp gọi là "Fraisier", khi du nhập qua Việt Nam vì có nguồn gốc từ Pháp nên được gọi là Dâu Tây.
Phân loại Theo hệ thống thực vật học mới nhất, cây được phân loại như sau: Giới: Plantea (thực vật) Ngành: Angiospermae (hạt kín) Lớp: Rosids (hoa hồng) Bộ: Rosales (hoa hồng) Họ: Rosaceae (hoa hồng) Chi: Fragaria Loài: Fragaria L. Đặc điểm thực vật học của cây 2. Rễ Rễ cây thuộc loại rễ chùm, chỉ khi cây thực sinh còn nhỏ mới có rễ chính rõ ràng. Đầu chóp rễ có sức phân nhánh mạnh.
Rễ cây phát triển tốt nhất trong điều kiện khi nhiệt độ đất là 25oC. Rễ có vai trò cố định cây và giúp cây hấp thu nước và dinh dưỡng. Rễ có chu kỳ sống từ vài ngày đến vài tuần [3]. Thân Cây thuộc loài cây thân thảo, có 2 kiểu thân là thân chính và thân bò [9].
Thân bò bắt đầu từ cổ rễ vươn dài trên mặt đất và tận cùng là một chồi. Chồi này phát triển thành một vòng lá mới, mọc rễ mới, từ đó sinh ra một thân bò lan khác và cứ tiếp tục như thế. Gióng của thân bò đó có thể chết đi hoặc bị cắt đứt nhưng chồi mới được hình thành vẫn sống độc lập. Thường thì từ thân chính sẽ phát sinh thêm 1 đến 2 thân con nữa và các nhánh này góp phần vào năng suất của cây sau này.
Lá Lá phát sinh xung quanh thân, cây có nhiều lá bao quanh thân, lá có cuống dài, lá kép lông chim có 3 lá chét. Số lá cũng như diện tích lá giảm xuống vào đầu đông, có lẽ điều này có mối quan hệ với việc ra hoa vào mùa xuân. Mỗi lá tồn tại 1 đến 3 tháng tùy vào thời tiết. Hoa Lá đài của hoa nhỏ và có mùa xanh, lá được bố trí bên dưới những cánh hoa màu trắng, những cánh hoa xếp khít với nhau khi hoa ở trạng thái nụ.
Hoa có 5 cánh, có 25 đến 30 nhị màu vàng, 50 đến 500 nhụy, đế hoa hình nón. Hoa là hoa lưỡng tính vì vậy là cây tự thụ. Quả Thực chất quả vẫn thường gọi là quả giả, chứa các mô ngoài noãn, nó được phình ra từ đế hoa. Quả thật là những quả bế gọi là hạt.
Số lượng quả bế nhiều, nhỏ, hình elip bao phủ bề mặt quả [9]. Quả thường phát triển sau khi hoa nở và chín sau đó khoảng 20 đến 30 ngày, số lượng quả bé cũng ít hơn. Thường thì ra quả theo chùm, xếp hình xim gồm quả đầu tiên, thứ cấp và sau thứ cấp vì vậy kích thước cũng như thời gian chín cũng khác nhau. Quả đầu có kích thước lớn nhất, quả thứ cấp có kích thước nhỏ hơn, số lượng quả bế cũng ít hơn, nhưng là quả thu hoạch chính làm nên năng suất.
Mùa vụ thu hoạch quả bắt đầu từ tháng 11, 12 đến tháng 3, 4 năm sau. Tác dụng của cây Quả có vị ngọt, chua se, tính mát, cung cấp nhiều loại vitamin cần thiết cho cơ thể con người như vitamin A, B1, B2, đặc biệt lượng vitamin C khá cao, hơn cả cam, dưa hấu. Quả có tác dụng lợi tiểu, chữa sỏi tiết niệu, dùng làm rươu bổ [6]. dùng chữa các chứng như ho do phổi nóng, cổ họng sưng đau, chán ăn, tiểu ngắn, tiểu gắt, thiếu máu suy nhược, ung nhọt, say rượu [4].
Dâu tươi mới hái hàm lượng vitamin C và đường fructose đều rất cao, trong đó hàm lượng chất khoáng như K, Na, Fe. cũng rất phong phú, cho nên ăn nhiều giúp thúc đẩy chuyển hóa các chất trong cơ thể, làm máu huyết lưu thông, đồng thời có tác dụng trấn tĩnh an thần và phòng chống lão hóa [18]. Ngoài ra còn có tác dụng với tim mạch [16]. Cơ sở khoa học của phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật 2.
Tính toàn năng của tế bào Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 nhà sinh lý thực vật người Đức Haberlandt (1902) đã phát biểu tính toàn năng của tế bào như sau: Mỗi tế bào bất kỳ của một cơ thể sinh vật đa bào đều có khả năng tiềm tàng để phát triển thành một cá thể hoàn chỉnh [1], [14], [19], [20]. Theo quan niệm của sinh học hiện đại thì mỗi tế bào riêng rẽ đã phân hoá đều mang toàn bộ lượng thông tin di truyền cần thiết và đủ của cả cơ thể sinh vật đó. Khi gặp điều kiện thích hợp, mỗi tế bào đều có thể phát triển thành một cá thể hoàn chỉnh. Cho đến nay con người đã hoàn toàn chứng minh được khả năng tái sinh một cơ thể thực vật hoàn chỉnh từ một tế bào riêng rẽ [5].
Trong nuôi cấy in vitro, tế bào thực vật thể hiện tính toàn năng thông qua sự phản phân hoá và phân hoá của tế bào. Sự phân hoá và phản phân hoá của tế bào Cơ thể thực vật trưởng thành là một chính thể thống nhất bao gồm nhiều cơ quan chức năng khác nhau. Tuy nhiên tất cả các loại tế bào đó đều bắt nguồn từ một tế bào đầu tiên (tế bào hợp tử). Ở giai đoạn đầu, tế bào hợp tử tiếp tục phân chia hình thành nhiều tế bào phôi sinh chưa mang chức năng riêng biệt (chuyên hoá).
Sau đó từ các tế bào phôi sinh này chúng tiếp tục được biến đổi thành các tế bào chuyên hoá đặc hiệu cho các mô, cơ quan có chức năng khác nhau [7]. Sự phân hoá tế bào là sự chuyển các tế bào phôi sinh thành các tế bào mô chuyên hoá, đảm nhận các chức năng khác nhau của cơ thể. TB phôi sinh Tế bào dãn TB phân hoá có chức năng riêng biệt Tuy nhiên, khi tế bào đã phân hoá thành các tế bào có chức năng chuyên, chúng không hoàn toàn mất khả năng biến đổi của mình.Trong trường hợp cần thiết, ở điều kiện thích hợp, chúng lại có thể trở về dạng tế bào phôi sinh và phân chia mạnh mẽ cho ra các tế bào mới có khả năng tái sinh thành cây hoàn chỉnh. Quá trình đó gọi là phản phân hoá tế bào, ngược lại với sự phân hoá tế bào.
Sự giãn tế bào: Tế bào giãn ra cả về chiều ngang và chiều dọc làm tăng kích thước của từng cơ quan nói riêng và toàn bộ cơ thể nói chung. Sau hai giai đoạn này cùng với quá trình biệt hoá tế bào phân hoá thành các mô chức năng chuyên hoá chuyên biệt, đảm nhận các vai trò khác nhau trong cùng một cơ thể sống.