CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Những nghiên cứu về đặc điểm nhân cách 1. Các lý thuyết nghiên cứu nhân cách Theo lý thuyết chất dịch: quan niệm vốn có trong lý thuyết này là cơ thể người chứa đựng những chất dịch (chất lỏng), đặc biệt có nhiều nhất trong cơ thể như máu, dãi, đờm, mật vàng, và mật đen, và những chất này có ảnh hưởng nhiều tới nhân cách của con người. Theo đó những người có tỉ lệ máu cao thì thường có nhân cách hoạt bát, vui vẻ, sinh động, còn những người có tỉ lệ mật vàng hay nước mắt cao hơn sẽ tạo ra tính cách nóng nảy, hấp tấp [45].
Theo lý thuyết phân tâm của Freud: Cấu trúc nhân cách có ba thành phần, bao gồm: Cái nó, cái tôi và cái siêu tôi. Freud cho rằng nhân cách của cá nhân có liên quan chặt chẽ với quá trình của ý thức và libido, được xây dựng và định hình lúc 5 tuổi, đây là thời kỳ quan trọng nhất quyết định toàn bộ sự phát triển của một đời người [45]. Lý thuyết của Karl Gustav Jung cho rằng có một vô thức tập thể hình thành từ những động cơ nguyên thủy của loài người. Trong cấu trúc này, cái tôi là trung tâm của ý thức, nhân cách là mẹ của ý thức, vô thức là mẹ của tâm lý tập thể và tâm lý cá nhân.
Cái bản thân nằm giữa ý thức và vô thức. Cái bản thân là sự tổng hợp cái bên trong và cái bên ngoài [44]. Lý thuyết 8 giai đoạn phát triển của Erikson: nhân cách như thế nào chính là quá trình mỗi cá nhân đối phó với những mâu thuẫn gặp phải trong các giai đoạn đó [45]. Lý thuyết về hành vi về nhân cách của B.Skinner: Hành vi tạo tác là hành vi được hiểu là loại hành vi được tạo ra bởi chính hiệu quả của nó.
Và sự hình thành và phát triển nhân cách chính là sự hình thành, duy trì, thay đổi một hệ thống các hành vi tạo tác để tạo nên một nhân cách ổn định, riêng biệt [45]. Thuyết hành vi xã hội: nhóm các lý thuyết này xem nhân cách phần lớn là kết quả của sự tập quen. Những lý thuyết này thay đổi từ thuyết kích thích – phản ứng theo thuyết hành vi, xem nhân cách đơn thuần là kết quả của vô số các lần biến đổi 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com do điều kiện ngoại cảnh mà trẻ tiếp nhận qua đời sống, cho đến lý thuyết ý thức xã hội và hành vi xã hội phức tạp hơn, xem kinh nghiệm xã hội là yếu tố quan trọng quyết định nhân cách [46] [51]. Nhân cách theo thuyết hành vi xã hội: Albert Bandura cho rằng yếu tố xã hội trong việc hình thành nhân cách quan trọng hơn sự thừa nhận của Watson hay Skinner.
Bandura cho rằng một quá trình quyết định liên quan đến nhân cách đó là học tập xã hội [45] Lý thuyết nhu cầu về nhân cách của Maslow: Theo quan niệm của ông, sự phát triển của nhân cách chính là quá trình mỗi các nhân tiến hành các hoạt động khác nhau để thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của mình. Chính quá trình mỗi các nhân tiến hành các hoạt động khác nhau của mình một cách đa dạng và phong phú để thỏa mãn các nhu cầu của mình quy định chiều hướng phát triển nhân cách của họ. Lý thuyết thân chủ trọng tâm cùa Carl Rogers: ở lý thuyết này, khái niệm cái tôi và sự phát triển cá nhân được nhấn mạnh, cho rằng cả hai yếu tố này đều cần thiết trong việc phát triển nhân cách lành mạnh [45]. Lý thuyết tâm lý học hoạt động về nhân cách cảu Vuwgotxki: Ông cho rằng “lịch sử phát triển văn hóa của trẻ đưa chúng ta đến lịch sử phát triển nhân cách” hay nói cách khác, sự phát triển nhân cách và thế giới quan của trẻ chính là sự phát triển văn hóa.
Lý thuyết nhân cách của Cattell: nhờ áp dụng phân tích nhân tố, nhà tâm lý học nhân cách Raymond Cattell đã tìm ra 16 đặc điểm tượng trưng cho các khuôn khổ nhân cách cơ bản. Từ đó phát triển thành bảng câu hỏi 16 nhân tố của nhân cách, là cách đánh giá cho biết mỗi đặc điểm nhân cách dành cho ba nhóm đối tượng khác nhau: phi công, nghệ sĩ sáng tạo và nhà văn [46] Nhà tâm lý học người Anh (sinh ra ở Đức) - Hans Eysenck cũng sử dụng phân tích nhân tố để nhận dạng các mẫu trong đặc điểm nhân cách. Ông nhận thấy phân tích nhân cách tốt nhất nên mô tả bằng thuật ngữ gồm hai khuôn khổ hướng nội - hướng ngoại và thần kinh ổn định - không ổn định. Khi phân tích theo hướng nội - hướng ngoại sẽ phân làm hai nhóm: một nhóm là người thường điềm tĩnh, cẩn thận trầm ngâm và ức chế (người hướng nội) còn một nhóm khác là những người 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com luôn vượt lên trước, hòa đồng và hoạt động (người hướng ngoại).
Con người cũng có thể chia thành kiểu người không ổn định với các biểu hiện như buồn rầu, hay tự ái, nhạy hay nhóm người ổn định với các biểu hiện điềm tĩnh, đáng tin. Với cách đánh giá con người theo hai chiều hướng này, nhà tâm lý Eysenck có thể dự đoán hành vi con người trong những tình huống khác nhau. Với những ưu điểm như số câu vừa phải và dễ diễn giải, dễ hiểu, thang đo nhân cách Eysenck (Eysenck Personality Inventory, viết tắt là EPỈ) đã được dịch và đưa vào sử dụng trong nghiên cứu, giảng dạy và thực hành lâm sàng ở Việt Nam khá lâu. Như vậy, có rất nhiều những lý thuyết nhân cách khác nhau trong ngành tâm lý học, mỗi lý thuyết có ưu, nhược điểm khác nhau.
Trong đó, không thể không nhắc đến lý thuyết 5 yếu tố lớn của nhân cách. Mục đích của thuyết 5 nhân tố FFM (Five Factor Model) là nhằm "quan sát người khác, ghi chép lại những sự khác biệt giữa các cá nhân đó". Qua nghiên cứu từ vựng (lexical study), người ta giả định rằng "sự khác biệt giữa các cá nhân có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động con người được ký hiệu hóa thành ngôn ngữ (ngôn ngữ tự nhiên) sử dụng hằng ngày. Do đó nếu tập trung, phân loại, chỉnh lý các từ ngữ biểu hiện sự khác biệt cá nhân (đặc tính ngữ) có trong từ điển hay những mô tả người có trong tiếp xúc và ghi chép thì có thể nhìn thấy cấu trúc của nhân cách.
Những nghiên cứu về từ vựng được bắt đầu từ Alloprt, G. (1936) cùng với sự phát triển của phương pháp phân tích nhân tố đã phát triển thành ghi chép nhân cách dựa vào 5 nhân tố. Tiếp theo các nghiên cứu của Tupes, E.R trên cơ sở xem xét lại bản chất ý nghĩa tâm lý của các yếu tố, đã đi đến chỗ coi 5 nhân tố là mô hình có thể ghi chép một cách bao quát ve nhân cách vượt qua sự phân loại đơn thuần về đặc tính ngữ (hay những từ ngữ biểu thị đặc tính nhân cách, D. Phương pháp cấu thành thước đo trên cơ sở lý thuyết nhân cách và sử dụng thước đo đó để ghi chép về những sự khác biệt cá nhân được gọi là nghiên cứu phiếu hỏi hay nghiên cứu qua hỏi đáp viết (questionnaire study).
Trong khi nghiên 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cứu từ vựng xuất phát từ sự quan tâm đến từ vựng (đặc tính ngữ) và cơ cấu của nó để hệ thống hóa chúng theo phương thức từ dưới lên (bottom up) và tìm ra đặc tính nhân cách ở thứ nguyên cao thì trong nghiên cứu qua hỏi đáp viết chủ yếu người ta dùng phương pháp xác minh cấu trúc nhân cách từ lí luận với phương thức từ trên xuống (top down). Trong bối cảnh như vậy những nghiên cứu nhằm nắm bắt nhân cách một cách tổng quát đi tìm những mô hình dễ hiểu được tiến hành nhiều lần, dần dần những thành tựu của nghiên cứu từ vựng và nghiên cứu hỏi đáp viết được đưa vào kết hợp lại và hình thành nên FFM. Kết quả là thước đo với 5 nhân tố định sẵn ra đời. Trong số đó có NEO PI-R (Revised NEO Personality lnventory) một mô hình hiện nay đang được sử dụng rộng rãi nhân đã được Costa, P., Jr và Mccrae, R.
Thước đo này đo 5 mặt (lĩnh vực) của nhân cách, mỗi mặt bao gồm 6 chỉ số và mỗi chỉ số được đo bằng 8 hành vi thể hiện (8 items). Như vậy tổng cộng trắc nghiệm có 240 items. Với giả định về cơ cấu tầng bậc của các mặt và chỉ số, người ta hy vọng sẽ nắm bắt được nhân cách một cách tổng quát và chi tiết. Năm 1996, McCrae và Costa đưa ra lý thuyết năm yếu tố.
Lý thuyết này chỉ ra năm yếu tố cơ bản của nhân cách, còn gọi là Big Five, bao gồm: Tính thần kinh; tính hướng ngoại; Tính mở đối với hiểu biết; Tính dễ chịu; Tính ý thức. Nguồn gốc của mô hình nhân cách năm yếu tố này là quan điểm nét nhân cách là một yếu tố ổn định của nhân cách, trong khi các thuộc tính tâm lý khác như: Thái độ, niềm tin, kỹ năng … thì có thể thay đổi theo thời gian và tình huống. Từ quan điểm này, Cattell và cộng sự cho rằng cần phân biệt những yếu tố cơ bản của nhân cách (Big Five) với các đặc trưng thích ứng của nahan cách. Lý thuyết năm yếu tố muốn nhấn mạnh rằng nhân cách cần phải được xem xét một cách tổng thể và trong suốt chiều dài lịch sử của cá nhân chứ không nên xem như là một mẫu hành vi tách biệt.
Có nhiều nhiên cứu chỉ ra rằng năm yếu tố cơ bản của nhân cách chịu sự chi phối lớn bởi yếu tố di truyền, tuy nhiên tác giả của mô hình này (McCrae và Costa) cho rằng môi trường cũng có ảnh hưởng lớn đến nhân cách. Trong nghiên cứu của McCrae và Costa cũng tìm thấy độ tin cậy và độ giá trị của 5 yếu tố và các yếu tố này khá ổn định ở lứa tuổi trưởng thành. Golberg sau khi 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tổng hợp các nghiên cứu của những người khác nhau ông đã đề nghị lấy tên gọi 5 mặt đó là “Big Five”. Theo lý thuyết này, 5 mặt nhân cách mà được nhiều người tán thành nhất đó là Nhiễu tâm (Neuroticism), Hướng ngoại (Extraversion), Cởi mớ (Openness), Dễ đồng ý (Agreeableness) và Tận tâm (Coscientiouness).