Chương 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu Chương 2. Lịch sử và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Phân tích, đánh giá nguyên nhân gây trượt lở 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý và phạm vi nghiên cứu Huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nằm ở vùng biển phía Đông Nam nước ta, có tọa độ 8o36‟ đến 8o48‟ vĩ độ Bắc và 106o30‟ đến 106o48‟ kinh độ Đông, cách Vũng Tàu 97 hải lý, cách mũi Cà Mau 100 hải lý; có tổng diện tích 76km2 gồm 16 hòn đảo lớn, nhỏ (nếu kể cả hai hòn Trứng Lớn và Trứng Nhỏ, cách xa Côn Đảo khoảng 55 km về phía tây nam, thì quần đảo có 16 hòn đảo). Lớn nhất Côn Đảo là đảo Côn Sơn, có tọa độ khoảng 8°40′57″B - 106°36′26″Đ, diện tích khoảng 51,520 km2, chiếm 2/3 diện tích toàn quần đảo.
Đảo lớn thứ hai là Hòn Bảy Cạnh, với diện tích khoảng 5,500 km2, nằm ở phía đông nam Côn Đảo. Xếp thứ ba là Hòn Bà hay Côn Lôn Nhỏ, với diện tích 5,450 km2, nằm về phía tây nam Côn Đảo. Lớn thứ tư là Hòn Cau, có diện tích 1,800 km2. Các hòn còn lại đều có diện tích nhỏ hơn 1 km2 (Hình 1).
Vị trí địa lý và phạm vi vùng nghiên cứu 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Địa hình, địa mạo Côn Đảo nhìn từ trên cao có dáng vẻ của một con gấu, với thân chính phương ĐB-TN, chân vươn theo phương TB-ĐN (Hình 1. Côn đảo được hình thành do sự phun trào magma nên dạng địa hình phổ biến là núi cao hiểm trở (Hình 1. Đỉnh cao nhất là Núi Thánh Giá, nằm về phía tây nam của đảo, với độ cao 577m và các đỉnh xung quanh cũng có độ cao trên 450m, đỉnh núi Chúa là một thung lũng với độ cao khoảng 120m, đây cũng là con đường bộ thuận tiện nhất để đi từ phía Đông sang phía Tây đảo.
Tuy nhiên trên đảo Côn Sơn vẫn xuất hiện một vài khu vực tương đối bằng phẳng. Phần thấp là một vùng đồng bằng phân dị, với chủ yếu là các bậc địa hình khá rõ, có thể coi như các bậc thềm biển cổ, phổ biến ở mực độ cao 10m và 2-4 m. Các bậc thềm này còn ít được nghiên cứu. Bậc 2-4 mét tạo nên một không gian khá rộng lớn và đẹp, nơi thị trấn Côn Đảo tọa lạc (hình 1.
Thềm này bị phức tạp hóa bởi các doi cát và các đầm hồ sát chân núi. Chúng song song với địa hình chính, tạo nên các kiến trúc xu thế uốn cong quay lưng về phía chân núi. Bậc địa hình 10 mét, thường bị cắt sẻ hoặc bị che lấp bởi các thành tạo sườn tích, và thành tạo phong thành. Ở sườn núi nhiều nơi quan sát được các khối sườn tích lớn, chúng là đơn vị địa mạo chuyển tiếp giữa thềm biển và vách núi cao.
Địa hình Côn Đảo mô tả trong Hình 1. Toàn cảnh địa hình một bức tranh do họa sĩ người Pháp vẽ vào Côn Đảo chụp từ trên cao cuối thế kỷ 19. (Nguồn: Internet) 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Sơ đồ địa hình Côn Đảo Cư dân trên quần đảo từ xưa chủ yếu tập trung ở hai làng An Hải và Cỏ Ống trên Côn Đảo.
Đó cũng chính là các thềm biển cổ Holocen trung rộng nhất ở Côn Đảo. Ngày nay còn có các điểm dân cư khác đó là khu vực Bến Đầm ở phía tây nam (cảng mới) và Bãi Đá Dốc ở phía đông bắc (khu resort) của Côn Đảo. Khí hậu Do nằm ở vị trí cận xích đạo, Côn Đảo nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa mưa và khô rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Do xung quanh là biển, chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương nên độ ẩm cao, chế độ khí hậu ôn hòa hơn so với đất liền.
Nhiệt độ trung bình năm 26oC, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất 28,3oC (tháng 5), tháng có nhiệt độ bình quân thấp nhất 25,3oC (tháng 1). Lượng mưa trung bình ở Côn Đảo là 2200mm/năm, số ngày mưa trung bình là 166 ngày/năm. Hướng gió chủ đạo của Côn Đảo trong mùa mưa là gió Tây, mùa khô là gió Tây Bắc, Đông Bắc. Đặc biệt gió Đông Bắc trong mùa khô mạnh, có khi tới cấp 6, cấp 7 mà người dân nơi đây gọi là gió chướng.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hải văn - Thủy văn Quần đảo Côn Đảo nằm ở vùng giao nhau giữa luồng hải lưu ấm từ phía nam và luồng hải lưu lạnh từ phía bắc. Nhiệt độ nước biển từ 25 oC đến 29,2oC. Địa hình Côn Đảo chủ yếu là núi đồi, không có sông rạch, chỉ có khoảng 60 con suối ngắn, nhỏ chảy tạm thời vào mùa mưa.
Ngoài ra còn có một số hồ, chủ yếu là hồ nước mặn và một số đầm lầy nước lợ phía sau các đê cát tại khu trung tâm. Do đó nước ngầm là nguồn nước ngọt chủ yếu ở Côn Đảo dùng cho sinh hoạt cũng như các hoạt động kinh tế. Điểm đặc biệt là chỉ cần khoan sâu từ 10-20m là có thể tìm thấy các mạch nước ngầm, thậm chí ngay bên cạnh bờ biển. Ước tính có thể khai thác được 18,4 triệu m3 nước ngọt trong thung lũng đảo Côn Sơn trong 1 năm.
Ở Côn Đảo, chỉ có đảo Côn Sơn và Hòn Cau có nước ngọt. Ngoài ra ở đây có hồ chứa nước Quang Trung khá lớn (20ha) cung cấp nước cho sinh hoạt và các hoạt động kinh tế. Đặc điểm địa chất Trên bình đồ địa chất khu vực, Côn Đảo nằm trên miền vỏ chuyển tiếp giữa vỏ lục địa và vỏ đại dương, thuộc đới nâng Côn Sơn, đóng vai trò kiến trúc phân tách bồn Kainozoi Cửu Long và Nam Côn Sơn. Mỗi hoạt động của từng đơn vị địa chất này đều ít nhiều có ảnh hưởng đến khu vực Côn Đảo.
Theo những tài liệu thu thập được, các đơn vị địa chất này có thể được mô tả như sau: 1. Địa tầng Vùng Côn Đảo bao gồm 16 đảo trong đó Côn Sơn là đảo lớn nhất, chúng phân bố trong phạm vi đới nâng Côn Sơn. Đới nâng Côn Sơn trong Kainozoi là ranh giới giữa hai bồn Cửu Long và Nam Côn Sơn và phân bố kéo dài theo phương ĐB-TN, được cấu tạo chủ yếu từ đá magma (phức hệ Định Quán -J3 dq1, phức hệ Đèo Cả K dc3 và hệ tầng Nha Trang Knt). Phức hệ Định Quán, pha 1 (-J3 dq1) phân bố ở phần đông bắc đảo Côn Sơn, chiếm ½ diện tích đảo.
Đá thuộc phức hệ Định Quán gồm diorit horblen biotit, diorit thạch anh pyroxen horblen, gabro-diorit. Nhìn chung, đá dập vỡ yếu, thường bị phân cắt ra các khối tảng lớn (dọc bờ biển tại Bãi Đầm Trầu). 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hệ tầng Nha Trang (K nt) gồm đá phun trào ryolit và tuf phân bố ở tây nam đảo Côn Sơn và một số đảo khác (Hòn Bà, Hòn Trác, Hòn Tài, Hòn Bãi Cạnh, Hòn Cau, Hòn Tre. Đá thuộc hệ tầng Nha Trang với bề dày 130m bị dập vỡ mạnh, tạo ra các đới vỡ vụn ở Mũi Cá Mập.
Trong hệ tầng Nha Trang ghi nhận nhiều đới xiết trượt. Phức hệ Đèo Cả (K dc) gồm các đá granit biotit phân bố chủ yếu trên đảo Côn Sơn. Ngoài ra phức hệ này còn phân bố với diện tích nhỏ ở một số đảo nhỏ (Hòn Trọc, Hòn Tre Nhỏ, Hòn Trứng Lớn, Hòn Trứng Nhỏ và Hòn Bãi Cạnh). Đá thuộc phức hệ Đèo Cả bị dập vỡ, phân cắt mạnh.
Ngoài các thành tạo trước Kainozoi, tại vùng Côn Đảo còn có các thành tạo Pliocen - Đệ tứ với bề dầy mỏng, gồm hệ tầng Biển Đông phân bố ở đáy biển, xung quanh đảo cấu tạo từ cát, bột, sét phân lớp nằm ngang, còn trên đảo gặp hệ tầng Hậu Giang (Q22 hg) và trầm tích biển (Q22-3). Hệ tầng Hậu Giang trên đảo Côn Sơn chủ yếu là cát phân bố ở Trung tâm Côn Đảo, ở sân bay Cỏ Ống. Ngoài ra ở một vài nơi, chạy áp sát chân núi hệ tầng Hậu Giang tạo nên các đê cát cao 5 - 6m. Trầm tích biển (Q22-3) phân bố ở các bãi biển ở Vịnh Côn Sơn, Vịnh Đông Bắc và Bãi Đầm Trầu (Hình 1.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bản đồ địa chất Côn Đảo [1] 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Kiến tạo + Vị trí kiến tạo Côn Đảo thuộc đơn vị kiến tạo lớn của bản đồ kiến tạo Kainozoi là đới nâng Côn Sơn, hình thành và phát triển trên miền vỏ lục địa Tiền Cambri có trải qua chế độ rìa lục địa tích cực kiểu Anđes trong Mesozoi muộn. + Kiến trúc sâu Theo tài liệu trọng lực, bề mặt Moho ở Côn Đảo nâng cao ở độ sâu dưới 29km.
Bề mặt Conrađ có độ sâu 12-13km. + Các khối địa chất Khối Côn Đảo là phần nhô cao nhất của đới nâng trong Kainozoi Côn Đảo kéo dài theo phương ĐB-TN (ở đây lộ ra các đá phun trào và xâm nhập tuổi Mesozoi muộn, thuộc các thành tạo núi lửa - pluton dãy kiềm - vôi của rìa lục địa tích cực kiểu Anđes (đoạn Nam Việt Nam của đai Đông Nam Á). Đới nâng Côn Sơn có dạng một phức nếp lồi phát triển kéo dài theo phương Đông Bắc, chủ yếu cấu tạo bởi các đá xâm nhập và phun trào trung tính, axit thuộc đá núi lửa rìa đông lục địa châu Á tuổi Mesozoi muộn. [1] + Đứt gãy Trong phạm vi vùng nghiên cứu, các đứt gãy liên quan phát triển theo cả 4 phương: TB-ĐN, Á Kinh tuyến, ĐB-TN, Á Vỹ tuyến; được phân bố như sau: (Hình 1.5) 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Sơ đồ đứt gãy có liên quan đến khu vực nghiên cứu (theo Phùng Văn Phách, Cao Đình Triều, Trần Tuấn Dũng, Phạm Huy Long) - Đới đứt gãy Sông Hậu Đới đứt gãy có phương TB-ĐN, được thể hiện như ranh giới phân chia vi mảng Đông Dương và Sunda vào Kainozoi. Đứt gãy này kéo dài trên 1000km từ Bắc Rangoon qua Phnom Penh dọc Sông Hậu đến tận Đông Bắc Côn Đảo. Độ sâu ảnh hưởng của đứt gãy có thể đạt tới 50-60km với phương cắm về phía Đông Bắc. Đứt gãy này hoạt động mạnh vào Kainozoi sớm và có hướng dịch trượt bằng phải.
Nhưng trong Kainozoi muộn có dấu hiệu chuyển trượt bằng trái. Cự ly dịch chuyển trái lớn hơn nhiều so với dịch chuyển phải. Cự ly dịch chuyển đứng của đứt gãy trên 1000m. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.