CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Vị trí địa lý Khu vực nghiên cứu nằm tại thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải – cực Nam của tỉnh Bạc Liêu, tiếp giáp với xã Tân Thuận, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, được giới hạn bởi: Phía Đông và phía Bắc giáp xã Long Điền Tây; Phía Tây giáp sông Gành Hào và xã Tân Thuận huyện Đầm Dơi; Phía Nam và Đông Nam giáp biển Đông.1 Phạm vi nghiên cứu 1.2 Điều kiện tự nhiên 1.1 Đặc điểm địa hình Theo báo cáo nghiên cứu khả thi dự án khắc phục sự cố kè Gành Hào. Khu vực nghiên cứu là vùng bồi tích ven biển, được tạo thành trong quá trình biển lùi và bồi tụ của phù sa ven biển. Địa hình tương đối bằng phẳng, cao độ thay đổi từ +0,40 GVHD: PGS.TSKH Bùi Tá Long 9 HVTH: Bùi Hồng Nhật Linh đến +1,00. Phần lớn vị trí dự kiến xây dựng công trình nằm trong vùng lên xuống của mực nước triều.
Đây là khu vực đặc trưng cho xói lở bờ biển ở Bạc Liêu với đặc điểm khu vực ranh giới giữa khu vực không có và có cây ngập mặn hình thành các bậc xói lở với chiều cao bậc trung bình là 0,5÷1 m, có đoạn đặc biệt bậc xói lở sâu tới 1,5÷2 m (khu vực giáp cửa sông Gành Hào). Cao độ bãi do diễn biến xói lở nên thường bị biến động mạnh theo mùa với trung bình cao độ bãi biến động là 0,2 m. Khu vực biến động mạnh tập trung ở những khu vực không có công trình bảo vệ bờ [1].2 Đặc điểm địa chất Theo báo cáo quan trắc Địa chất kè Gành Hào đoạn G1 khu vực thị trấn Gành Hào được thể hiện khá rõ trong “Báo cáo kết quả khảo sát địa chất” do Viện Khoa học Thuỷ lợi miền Nam lập tháng 03-04/2017, với 3 hố khoan ở độ sâu 30 m/hố và dự án trồng rừng Gành Hào có 6 hố khoan ở độ sâu 20 m/hố năm 2016 [5]. a) Về cấu tạo đất nền: Từ mặt đất xuống đến độ sâu 30 m bắt gặp các lớp đất: phần trên có độ sâu trung bình 22m là trầm tích mới cửa sông chưa cố kết, kế tiếp đó là trầm tích phù sa cổ - sét, sét pha ở trạng thái dẻo cứng.
Đến độ sâu 30 m chỉ gặp 2 lớp với thành phần và tính chất cơ lý như sau: Lớp 1: Bùn sét màu xám đen ở trạng thái chảy, phân bố đến độ sâu trung bình 21. Đây là lớp đất yếu, trầm tích mới, chưa cố kết. Hàm lượng hạt bụi và hạt sét chiếm tới hơn 90%. Tính chất nén lún rất cao, cường độ chịu tải nhỏ.
Lớp 2: sét màu vàng loang lổ xám ở trạng thái dẻo cứng, lớp đất này thường chứa các thấu kính sét pha trạng thái dẻo mềm, dẻo cứng, đến độ sâu 30 m chưa khoan thấy lớp này. b) Nước ngầm : Mực nước ngầm đo được tại các lỗ khoan trong thời gian khảo sát vào cuối mùa khô tồn tại ở độ sâu trung binh 0.50 m, tương ứng với cao trinh trung binh +1.00 và có liên quan trực tiếp dến mực nước sông Gành Hào và nước biển. Tầng bùn sét có tính thấm nước yếu, nước trong tầng này có thành phần hóa học là nước mặn, có tính GVHD: PGS.TSKH Bùi Tá Long 10 HVTH: Bùi Hồng Nhật Linh ăn mòn Sunphat mạnh đối với vật liệu xây dựng. Qua tài liệu khảo sát địa chất có thể rút ra các kết luận như sau: Bờ sông và bờ biển khu vực thị trấn Gành Hào được cấu tạo bởi lớp đất trầm tích phù sa trẻ mới hình thành, chưa chuyển qua quá trình biến đổi địa chất đầy đủ, được xem là loại đất yếu với với độ rỗng cao chưa nén chặt tự nhiên, đất dễ biến dạng, cường độ kháng cắt rất thấp.
Lớp đất bùn sét nằm ngay trên cùng của mặt cắt địa chất thường xuyên tiếp xúc với nước, luôn bị tác động trực tiếp của dòng nước. Bản thân đất bùn sét là đất kém chịu nước, dễ mất ổn định khi bị dòng chảy có biên độ dao động lớn từ 34 m tác động vào.3 Đặc điểm khí hậu ➢ Độ ẩm Mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm và mưa nhiều, độ ẩm không khí khá cao. Độ ẩm trung bình tháng thấp nhất là 77% (tháng II, III, IV năm 2017), tháng cao nhất 86% (tháng VII, VIII, IX, X năm 2017). Độ ẩm trung bình tháng 90 85 80 % 75 70 65 2015 2016 2017 Hình 1.2 Độ ẩm không khí trung bình tháng qua các năm (Theo Niên giám thống kê tỉnh Bạc Liêu 2017) ➢ Nhiệt độ GVHD: PGS.TSKH Bùi Tá Long 11 HVTH: Bùi Hồng Nhật Linh Nhiệt độ trung bình tháng 32 30 28 oC 26 24 22 2015 2016 2017 Hình 1.3 Nhiệt độ không khí trung bình tháng qua các năm (Theo Niên giám thống kê tỉnh Bạc Liêu 2017) Nhiệt độ thấp khoảng từ 24 – 26oC vào khoảng tháng I, II và XII.
Năm 2017 có nhiệt độ thấp nhất 25,7oC (tháng XII). Nhiệt độ cao khoảng 28 – 30oC vào khoảng tháng IV, V. Năm 2017 có nhiệt độ cao nhất là 28,9oC (Tháng IV). ➢ Chế độ mưa Khí hậu Bạc Liêu có 2 mùa trong năm: mùa mưa và mùa khô.
Mùa mưa kéo dài từ tháng V đến tháng XI với lượng mưa chiếm khoảng 85÷90% tổng lượng mưa hàng năm. Mùa khô kéo dài từ tháng XII đến tháng IV, hầu như không có mưa. Mưa có cường độ lớn thường tập trung vào khoảng 3 – 5 ngày liên tiếp.TSKH Bùi Tá Long 12 HVTH: Bùi Hồng Nhật Linh Lượng mưa trung bình tháng 600 500 400 mm 300 200 100 0 2015 2016 2017 Hình 1.4 Lượng mưa trung bình tháng qua các năm (Theo Niên giám thống kê tỉnh Bạc Liêu 2017) Vùng dự án chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có 2 mùa rõ rệt; mùa mưa bắt đầu từ tháng V đến tháng XI, hướng gió chính theo hướng Tây- Nam, và mùa khô bắt đầu từ tháng XII đến tháng IV năm sau, hướng gió chính là Đông-Bắc. ➢ Chế độ gió Gió cũng là một yếu tố biến động rất lớn trong từng ngày, ở từng nơi trong khu vực.
Ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung trong đó có khu vực dự án nói riêng có hai mùa gió: mùa gió Tây Nam và mùa gió Đông Bắc, tương ứng với hai mùa gió có hai mùa khí hậu rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Theo báo cáo kết quả khảo sát thủy văn năm 2010. Hàng năm vùng khảo sát bị điều tiết bới gió mùa với các hướng chính là Đông Bắc và Tây Nam. - Gió mùa Tây Nam thường bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài đến hết tháng 9.
Ở những vùng ven bờ biển (Tp Bạc Liêu, huyện Giá Rai thuộc tỉnh Bạc Liêu; huyện Đầm Dơi, Ngọc Hiển, Năm Căn, Phú Tân, Trần Văn Thời, U Minh thuộc tỉnh Cà Mau), trong thời kỳ gió mùa Tây Nam hướng gió thịnh hành là Tây Tây Nam, Tây GVHD: PGS.TSKH Bùi Tá Long 13 HVTH: Bùi Hồng Nhật Linh Nam và Tây, trong đó chủ yếu là hướng Tây Nam chiếm tời 80%. Vận tốc gió trung bình theo hướng này là từ 4-6 m/s, tốc độ lớn nhất vào khoảng 8-10 m/s. - Gió mùa Đông Bắc thường bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Ở những vùng ven bờ biển gió thường thổi theo hướng: Đông Bắc, Đông và Đông Nam, trong đó chủ yếu là hướng Đông và Đông Bắc, vận tốc gió trung bình đạt khoảng 8-10 m/s, cao nhất là từ 12- 14 m/s.
Với tần suất xuất hiện vượt trội, tốc độ gió cũng là lớn hơn nhiều so với gió mùa Tây Nam.5 Hoa gió năm 2010 (Theo Báo cáo Thủy văn Gành Hào – Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam) Bạc Liêu thuộc khu vực ít bão, cơn bão lớn nhất trong lịch sử là bão Linda (năm 1997) quét qua tỉnh Bạc Liêu với sức gió lên đến 150 km/h. Trong khu vực có hai hướng gió chính: Mùa mưa thịnh hành hướng gió Đông - Bắc (15/V đến 15/XI); Mùa khô thịnh hành gió Tây - Nam (15/XI đến 15/V năm sau); Vận tốc gió trung bình V = 3÷4 m/s, trong cơn dông có gió giật cấp 6 (V=11÷13 m/s); Tốc độ gió lớn nhất thường xảy ra vào các tháng mùa khô, là thời kỳ nước mặn xâm nhập mạnh vào nội đồng.1 Đặc trưng chế độ thủy văn, thủy lực GVHD: PGS.TSKH Bùi Tá Long 14 HVTH: Bùi Hồng Nhật Linh Theo báo cáo kết quả khảo sát thủy văn ở trạm Gành Hào cho thấy khu vực nghiên cứu của đề tài chịu tác động của hai chế độ triều; các khu vực từ thành phố Bạc Liêu đến Mũi Cà Mau thuộc chế độ bán nhật triều không đều biển Đông. Triều biển Đông có biên độ triều lớn (300cm-350cm), biên độ dao động mực nước chân triều lớn (160-300 cm), biên độ dao động mực nước đỉnh triều nhỏ hơn (80-100cm), khoảng thời gian duy trì mực nước cao dài hơn khoảng thời gian duy trì mực nước thấp và đường mực nước bình quân ngày nằm gần với đường mực nước đỉnh triều. Trong một ngày có hai dao động, biến thiên với chu kỳ 24giờ 50’.
Thời gian nước lên và xuống bằng nhau và bằng 12 giờ 25’. Chu kỳ trong mỗi tháng âm lịch có hai kỳ triều cường và hai kỳ triều kém. Chu kỳ nhiều năm cho thấy thủy triều có một chu kỳ dài là 18,6 năm, nhưng độ chênh lệch thủy triều này tương đối nhỏ. Tài liệu mực nước triều tại trạm Gành Hào tương đối đầy đủ, số liệu mực nước lớn nhất, nhỏ nhất từ năm 1985 - 2014 được thống kê như sau: Bảng 1.1 Mực nước lớn nhất, nhỏ nhất của năm STT Năm Mực nước lớn nhất (cm) Mực nước nhỏ nhất (cm) 1 1985 179 -223 2 1986 178 -222 3 1987 179 -229 4 1988 177 -227 5 1989 189 -227 6 1990 173 -231 7 1991 181 -235 8 1992 197 -237 9 1993 179 -239 10 1994 179 -237 11 1995 177 -235 12 1996 172 -235 13 1997 214 -239 14 1998 183 -237 15 1999 202 -242 16 2000 186 -240 17 2001 196 -245 18 2002 200 -240 19 2003 194 -242 20 2004 190 -240 21 2005 190 -243 22 2006 196 -243 23 2007 203 -234 GVHD: PGS.TSKH Bùi Tá Long 15 HVTH: Bùi Hồng Nhật Linh STT Năm Mực nước lớn nhất (cm) Mực nước nhỏ nhất (cm) 24 2008 210 -231 25 2009 218 -227 26 2010 209 -224 27 2011 214 -219 28 2012 212 -219 29 2013 216 -234 30 2014 225 -236 Trong mùa khô, chế độ thủy văn thủy lực bị chi phối chủ yếu bởi chế độ thủy triều biển Đông và biển Tây.
Phía Gành Hào thuộc thủy triều biển Đông, đường mặt nước trung bình nằm gần với đường mặt nước bình quân đỉnh triều hơn so với đường mặt nước bình quân chân triều.