Mở đầu Kết quả tổng hợp, phân tích, minh giải tài liệu có tính thực tiễn cao cho phép áp dụng đối với việc mở rộng tìm kiếm thăm dò các cấu tạo tiềm năng, chất lượng vỉa chứa cát kết không chỉ trong phạm vi phần Tây Bắc và Trung Tâm bể Cửu Long mà cả những khu vực khác có điều kiện tương tự trên thềm lục địa Việt Nam. Ứng dụng hiệu quả hệ phương pháp nghiên cứu, tổng hợp và phân tích các tài liệu địa chất, địa vật lý, tuổi đồng vị và nhiều nguồn tài liệu liên quan để nghiên cứu một cách toàn diện về nguồn gốc cát kết trong trầm tích. Xây dựng hệ phương pháp luận ứng dụng cho nghiên cứu tìm kiếm thăm dò dầu khí trong đá trầm tích. Luận điểm bảo vệ Luận điểm 1: Những điều kiện về địa chất thuận lợi cho hình thành trầm tích Miocen hạ vùng Tây Bắc và Trung Tâm bể Cửu Long, cát kết trong trầm tích này có nguồn gốc chủ yếu là sản phẩm của quá trình phong hóa bóc mòn, vận chuyển và tích tụ theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ các phức hệ magma tuổi Creta đới Đà Lạt và địa khối Kon Tum.
Luận điểm 2: Thành phần hạt vụn của cát kết trong trầm tích Miocen hạ có nguồn gốc từ các đá magma xâm nhập và phun trào tuổi Creta với di chỉ bền vững là các hạt zircon có tuổi được xác định tập trung chủ yếu trong khoảng 106-110 Tr.n và một phần zircon với tỷ lệ thấp hơn có tuổi tiền Cambri, Ordovic-Silur và Pecmi-Trias. Chuyên đề của luận án Tiểu luận tổng quan Phương pháp luận và tổng quan tình hình nghiên cứu quá trình hình thành trầm tích chứa dầu khí Miocen hạ bể Cửu Long. Chuyên đề 1 Nguồn gốc hình thành trầm tích Miocen hạ chứa Dầu khí bể Cửu Long. Nguyễn Tuấn 5 Mở đầu Chuyên đề 2 Trên cơ sở nghiên cứu xác định đặc trưng, quy mô phân bố, đặc điểm thạch học trầm tích, di chỉ bền vững làm sáng tỏ quá trình hình thành và xu thế phân bố tích tụ dầu khí trong trầm tích Miocen hạ bể Cửu Long Những điểm mới của luận án - Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên sử dụng mẫu lõi cát kết trong trầm tích ở thềm lục địa Việt Nam để phân tích tuổi đồng vị U-Pb zircon.
Kết quả phân tích tuổi đồng vị U-Pb zircon thành hệ cát kết trong trầm tích Miocen hạ vùng Tây Bắc và Trung Tâm bể Cửu Long đã khẳng định nguồn vật liệu trầm tích thành hệ này được hình thành trong giai đoạn Creta có tuổi biến thiên từ 83 đến 126 tr.n, tập trung chính khoảng 106- 110 Tr.n và một phần zircon với tỷ lệ thấp hơn có tuổi tiền Cambri, Ordovic-Silur và Pecmi-Trias. - Góp phần luận giải nguồn gốc, điều kiện hình thành các trầm tích hạt vụn Miocen hạ vùng Tây Bắc và Trung Tâm bể Cửu Long có nguồn vật liệu từ quá trình phong hóa, bóc mòn, vận chuyển và tích tụ theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ các phức hệ magma tuổi Creta đới Đà Lạt và địa khối Kon Tum. - Bước đầu làm rõ thêm xu thế phát triển, đặc điểm phân bố của các tầng chứa dầu khí trong trầm tích hạt vụn Miocen hạ vùng Tây Bắc và Trung Tâm bể Cửu Long, đóng góp vào việc định hướng tìm kiếm thăm dò tận thu và mở rộng ra các cấu tạo triển vọng vùng rìa khu vực Tây Bắc và Trung Tâm bể Cửu Long, cũng như các bể lân cận có hiệu quả hơn. Cấu trúc của luận án Luận án gồm phần mở đầu, 4 chương, phần kết luận, danh mục các công trình đã công bố của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu, danh mục hình vẽ minh họa.
Chương mục chính của luận án bao gồm: Mở đầu Chương 1: Tổng quan về bể Cửu Long và tình hình nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở dữ liệu và hệ phương pháp nghiên cứu. Nguyễn Tuấn 6 Mở đầu Chương 3: Xác định mối liên hệ giữa magma và thành hệ cát kết Miocen hạ vùng Tây Bắc và Trung Tâm bể Cửu Long. Chương 4: Nguồn gốc vật liệu lắng đọng trầm tích của thành hệ cát kết Miocen hạ vùng Tây Bắc và Trung Tâm bể Cửu Long.
Kết luận và kiến nghị Các công trình đã công bố Tài liệu tham khảo NCS. Nguyễn Tuấn 7 Chương 1: Tổng quan về bể Cửu Long và tình hình nghiên cứu CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BỂ CỬU LONG VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Khái quát bể Cửu Long 1.1 Vị trí địa lý - kinh tế - nhân văn Bể Cửu Long thuộc chủ yếu thềm lục địa Nam Việt Nam và một phần đất liền thuộc khu vực cửa sông Cửu Long. Bể có hình bầu dục, vồng về phía biển, kéo dài từ bờ biển Phan Thiết đến cửa sông Hậu. Về tọa độ địa lý, bể được giới hạn từ 90 đến 110 vĩ Bắc và từ 106030’ đến 10900’ kinh Đông.
Về quy mô, bể có diện tích khoảng 36.000 km2, trong đó chiều dài của bể khoảng 400 km theo hướng Đông Bắc – Tây Nam và chiều rộng của bể khoảng từ 50 – 75 km theo hướng Tây Bắc – Đông Nam (Hình 1. Về mặt ranh giới, phía Tây Bắc tiếp giáp với đất liền, phía Đông Nam ngăn cách với bể Nam Côn Sơn bởi đới nâng Côn Sơn, phía Đông Bắc là đới cắt trượt Tuy Hòa ngăn cách với bể Phú Khánh, và phía Tây Nam tiếp giáp với đới nâng Khorat – Natuna. Theo tài liệu phân lô thì diện tích của bể Cửu Long chủ yếu bao gồm các lô 9, 15, 16, 17, và một phần các lô 1, 2. Trong bể có các mỏ lớn đã và đang được đầu tư nghiên cứu và khai thác như: mỏ Bạch Hổ, mỏ Rồng, mỏ Rạng Đông, mỏ Ruby, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, CNV, Sư Tử Trắng …và một số mỏ khác đang thẩm lượng chuẩn bị phát triển như: Emerald, Hải Sư Trắng…Bể Cửu Long có sự đầu tư của các xí nghiệp liên doanh (XNLD), các công ty điều hành chung (JOC), các công ty liên doanh phân chia sản phẩm như: XNLD VietsovPetro, Hoàn Vũ JOC, Lam Sơn JOC, VRJ, Petronas (Malaysia), JVPC, Conoco… Về khí hậu: Nhìn chung bể Cửu Long có khí hậu đặc trưng là nóng do vị trí của bể gần với xích đạo.
Ở khu vực này có sự phân ra thành hai mùa rõ rệt: Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 và mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10. Nhiệt độ trung bình của khu vực này vào mùa mưa vào khoảng trên 30 0C và vào mùa khô là 26-27 0C. Nguyễn Tuấn 8 Chương 1: Tổng quan về bể Cửu Long và tình hình nghiên cứu Hình 1.1: Bản đồ vị trí khu vực nghiên cứu [8, 92] Về lượng mưa trung bình vào khoảng 120 – 300 cm/năm. Tuy nhiên vào mùa mưa lũ thì lượng mưa cao hơn gấp nhiều lần.
Chế độ gió: Từ tháng 11 đến 4, hướng gió chủ yếu là hướng Đông Bắc và Bắc – Đông Bắc. Sau đó vào tháng 12 và tháng giêng thì hướng gió chủ yếu là Đông Bắc. Vận tốc gió vào đầu mùa thì nhỏ và sau đó tăng dần lên, đạt cực đại vào tháng 2. Tốc độ gió trung bình vào khoảng 1,5 m/s, cực đại có thể lên đến 12,5 m/s.
Từ tháng 5 đến 10 chế độ gió chịu ảnh hưởng bởi hệ thống gió mùa Tây Nam, do đó hướng gió chủ yếu là Tây Nam và Tây – Tây Nam. Tốc độ gió trung bình vào khoảng 8,8 m/s, cực đại có thể lên đến 32 m/s. Về chế độ dòng chảy thì khu vực thuộc bể có nhiều dòng chảy khác nhau do ảnh hưởng bởi các yếu tố tác động khác nhau như: Thủy triều, địa hình đáy, khối lượng nước, nhiệt độ, chế độ gió,…Vận tốc dòng chảy trung bình, biển động nhẹ, gió giật trung bình cấp 4 – 5, vận tốc dòng xoáy ở mức trung bình. Nguyễn Tuấn 9 Chương 1: Tổng quan về bể Cửu Long và tình hình nghiên cứu Chế độ sóng trong khu vực bể cũng được chia ra thành 2 kiểu phụ thuộc vào 2 mùa trong năm: Từ tháng 5 đến tháng 10, hướng sóng chủ yếu là hướng Tây Nam, biên độ thấp và ổn định, trung bình vào khoảng 0,5 – 2 m, cực đại có thể đạt được 5 m.
Từ tháng 11 đến tháng 4 hướng gió là Đông Bắc và Bắc – Đông Bắc, sóng có biên độ từ 2 – 4 m, đôi khi lên 6 – 8 m. Về mặt giao thông thì tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có đường giao thông thuận lợi cho công tác tìm kiếm – thăm dò và khai thác dầu khí, cụ thể: Đường bộ: Có quốc lộ 51 nối liền Tp. Vũng Tàu với Tp. Hồ Chí Minh.
Hơn nữa chất lượng đường giao thông rất tốt, đạt chuẩn quốc gia. Đường thủy: Dài 80 km nối liền cảng Vũng Tàu với cảng Sài Gòn. Cảng Vũng Tàu là một cảng lớn có thể chứa và vận chuyển được khối lượng hàng hóa thiết bị lớn, đáp ứng tốt được công tác cung cấp thực phẩm, vận chuyển thiết bị cho giàn khoan ngoài khơi. Đường hàng không: Sân bay Vũng Tàu có thể tiếp nhận các loại máy bay AN – 24, AN – 28 và các lọai trực thăng.
Sân bay đảm nhận công tác đưa đón cán bộ hoạt động trong lĩnh vực dầu khí giữa đất liền và giàn khoan biển. Ngoài ra, sân bay cũng đảm nhận chức năng vận chuyển hàng hóa ra giàn và các dịch vụ khác theo yêu cầu.2 Lịch sử tìm kiếm thăm dò dầu khí Bể Cửu Long là một bể trầm tích có các hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí được triển khai từ rất sớm. Căn cứ vào quy mô, mốc lịch sử và kết quả thăm dò, lịch sử tìm kiếm thăm dò bể Cửu Long có thể chia thành năm giai đoạn, được thể hiện tóm tắt trên bảng 1. Công tác khảo sát địa vật lý trong bể Cửu Long được tiến hành rất sớm từ trước năm 1975.
Nằm trong chương trình khảo sát địa vật lý khu vực nhằm phân chia các lô, một số tuyến địa chấn được thực hiện cắt qua bể Cửu Long, qua đó xác định được sự tồn tại của bể. Sau khi khảo sát địa vật lý trong lô 09 và phân tích các tài liệu này, công ty Mobil đã khoan giêng khoan tìm kiếm đầu tiên trong bể Cửu Long trên cấu tạo Bạch Hổ (BH-1X) và thu được dòng dầu công nghiệp từ thử vỉa với lưu lượng 342 m3/ngày đêm trong cát kết Miocen hạ. Kết quả này đồng thời khẳng định được tiềm năng dầu khí của bể. Sau đó, công ty Deminex đã khoan bốn giếng khoan trên các cấu tạo triển vọng nhất Trà Tân (15-A-1X), Sông Ba (15-B-1X), Cửu Long (15-C-1X) và Đồng Nai (15-G-1X).