MỞ ĐẦU Mối là côn trùng xã hội, có sự phân hóa hình thái và chức năng giữa các nhóm cá thể trong quần tộc. Trong một quần tộc mối có các đẳng cấp khác nhau: mối vua, mối chúa, mối cánh, mối thợ, mối lính, mối non … Với khả năng phân giải các sản phẩm có nguồn gốc từ xenlulose và là nguồn thức ăn cho động vật hoang dã nên mối có vai trò rất quan trọng trong các hệ sinh thái tự nhiên. Với con người, mối được xếp vào nhóm côn trùng gây hại. Do thức ăn của mối là các vật liệu có nguồn gốc xenlulose nên đối tượng gây hại của mối là các công trình kiến trúc (nhà cửa, kho tàng, di tích lịch sử, văn hóa v.); các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện (đê, đập đất); các loại cây trồng (cây nông nghiệp, cây công nghiệp, cây cổ thụ, cây xanh đường phố)….
Mỗi đối tượng có một loài hay một nhóm loài gây hại chính. Ví dụ: giống mối Coptotermes gây hại chủ yếu cho công trình kiến trúc, giống mối Odontotermes gây hại trên các công trình thủy lợi hoặc cây trồng. Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, các nghiên cứu về mối tập trung chủ yếu theo hai hướng chính: điều tra đa dạng sinh học của mối và nghiên cứu các giải pháp phòng trừ các loài mối gây hại trên các đối tượng cụ thể. Đã có nhiều nghiên cứu về điều tra đa dạng sinh học mối được tiến hành như: Nguyễn Đức Khảm (1976) [10], Lê Trọng Sơn (1996) [23], Nguyễn Tân Vương (1997) [40], Nguyễn Văn Quảng (2003) [18], Ngô Trường Sơn (2009) [28], Nguyễn Quốc Huy (2010) [8], v.
Các nghiên cứu thường tập trung vào môi trường tự nhiên như vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. Những dẫn liệu về thành phần loài mối vùng đồng bằng, thành phố đặc biệt là tại các khu di tích lịch sử, văn hóa còn ít và tản mạn. Theo hướng nghiên cứu giải 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp phòng trừ mối trên các đối tượng ở Việt Nam có thể kể đến những công trình của Trịnh Văn Hạnh (2002, 2005, 2008, 2011) [3, 4, 5, 6], Ngô Trường Sơn (2009) [28], Nguyễn Quốc Huy (2010) [8], Nguyễn Tân Vương (2005, 2008, 2010) [41, 42, 43] v. Trong đó, biện pháp lây nhiễm sử dụng bả độc được áp dụng có hiệu quả cao đối với giống mối Coptotermes gây hại công trình kiến trúc.
Khu di tích Cố đô Huế bao gồm một quần thể các di tích lịch sử - văn hoá do triều Nguyễn xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Phần lớn các di tích thuộc sự quản lý của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới vào ngày 11 tháng 12 năm 1993. Hiện tại, Cố đô Huế đã được Thủ tướng Chính phủ đưa vào danh sách xếp hạng 23 di tích Quốc gia đặc biệt. Quần thể di tích Cố đô Huế được phân chia thành các cụm công trình bao gồm các cụm công trình ngoài Kinh thành Huế và các cụm công trình trong Kinh thành Huế.
Trong Kinh thành Huế bao gồm Đại Nội và Thành Nội. Các di tích trong khu di tích Cố đô Huế được cấu thành từ rất nhiều cấu kiện bằng gỗ và các vật liệu có nguồn gốc xenlulose nên thường xuyên bị mối xâm nhập gây hại. Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về thành phần loài mối trong khu di tích Cố đô Huế. Tuy nhiên, những nghiên cứu này còn nhiều hạn chế như chưa điều tra đầy đủ thành phần loài trong các công trình thuộc khu di tích Cố đô Huế, chưa xác định được loài gây hại chính cũng như chưa đánh giá được mức độ gây hại của chúng đối với các công trình trong khu di tích Cố đô Huế… 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với nhận thức đó, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần loài mối (Insecta: Isoptera) và đề xuất biện pháp phòng trừ loài gây hại chính cho di tích Cố đô Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế” với nội dung chủ yếu điều tra, khảo sát thành phần loài mối tại khu di tích Cố đô Huế, xác định các loài mối gây hại chính và lựa chọn biện pháp phù hợp, có hiệu quả để phòng trừ các loài mối gây hại chính cho khu di tích Cố đô Huế.
Vì điều kiện thời gian và khả năng hạn chế nên chắc chắn luận văn còn nhiều điểm khiếm khuyết, rất mong nhận được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu mối trên thế giới Công trình nghiên cứu của Hagen (1858) được coi là công trình đầu tiên có tính hệ thống học về mối trên thế giới. Kể từ đó bắt đầu thời kỳ phát triển mạnh mẽ các nghiên cứu về phân loại học hình thái mối.
Holmgren (1912, 1913) đã nghiên cứu phân loại và một phần sinh học mối khu hệ Ấn Độ. Müller (1915, 1921) mô tả một số giống mối, trong đó tập trung chủ yếu về các loài thuộc giống Anoplotermes. Oshima (1919) đã nghiên cứu khu hệ mối Đài Loan và Philippin. John (1913, 1925) đã tiến hành nghiên cứu phân loại và sinh học mối ở Ceylon, Malaysia và Indonesia.
Muộn hơn có Light và Wilson với các nghiên cứu về mối ở Trung Quốc và Philippin (Light, 1929, 1931, 1934 và Light et al. Kalshoven đã đầu tư một thời gian khá dài cho việc điều tra và nghiên cứu mối ở Java, các công bố của ông được đăng tải trong những năm 1930, 1941, 1950, 1952 đến 1960 (dẫn theo Nguyễn Quốc Huy, 2010) [8]. Giai đoạn nửa sau của thế kỷ 20 đến nay, các công trình nghiên cứu hệ thống học về mối đã phát triển khá mạnh mẽ dựa trên các công trình cơ bản của Snyder, Holmgren và Emerson. Năm 1949, Snyder liệt kê tổng cộng 1.745 loài mối trên toàn thế giới và đã cho xuất bản cuốn “Danh lục về mối trên thế giới”, trong đó ông lập được một danh sách các loài thuộc 5 họ (Mastotermitidae, Kalotermitidae, Hodotermitidae, Rhinotermitidae và Termitidae) với 130 giống, bao gồm cả những loài hoá thạch [78].
Constantinho (2007), tổng hợp lại và công bố tổng 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com số loài mối được phát hiện trên toàn thế giới là 2.858 loài, thuộc 286 giống [57].000 loài mối được phát hiện thì các loài mối thuộc giống Coptotermes trong phân họ Coptotermitinae và các giống Macrotermes, Odontotermes và Hypotermes trong phân họ Macrotermitinae là các taxon quan trọng, có ý nghĩa kinh tế lớn trong đời sống. Các danh mục thành phần loài của bộ Cánh đều hoặc của một họ mối cho từng khu vực cũng lần lượt được công bố, phần lớn các công trình này đều kèm theo khoá định loại riêng và mô tả cho từng loài. Tuy nhiên, đến 2004, Yupaporn Sornnuwat đã tổng hợp các nghiên cứu về thành phần loài mối ở Thái Lan và công bố có 199 loài [83]. Krishna (1965) [64] công bố thành phần loài mối tại Burma gồm 103 loài.
Sen-Sarma (1974) [77] đã mô tả và ghi chú về phân bố địa lý của 20 loài mối ở Pradesh, Ấn Độ. Thapa (1981) [82] đã tiến hành nghiên cứu mối ở Malaysia. Những nghiên cứu mối ở khu vực Đông Phương về sau tập trung vào các vấn đề phân loại học, địa động vật học cũng như vai trò đối với kinh tế của từng họ hoặc phân họ, cụ thể như Thakur (1979, 1980) [80, 81] , tiến hành nghiên cứu về mối gây hại cho cây rừng và các vườn ươm ở Ấn Độ. Những nghiên cứu về phân loại cũng được tiến hành ở Bắc Kinh, Thượng Hải và Quảng Châu.
Gần đây nhất, Huang Fu Sheng và cs. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghiên cứu về phân loại mối chủ yếu dựa trên những đặc điểm về hình thái ngoài của mối lính và mối cánh. Tuy nhiên, mối thợ cũng đã được nghiên cứu sử dụng trong phân loại như ở trong công trình nghiên cứu của Ahmad (1950) [46]. Trong nghiên cứu này ông đã sử dụng đặc điểm hàm trên của mối thợ làm đặc điểm chẩn loại, theo ông đây là một đặc điểm khá tốt khi sử dụng phân loại đến giống.
Quy cách chuẩn đo các chỉ số hình thái ngoài của mối để phục vụ công tác mô tả và định loại đã được Roonwal (1969) [70] đưa ra. Cho đến nay, phương pháp định loại mối đựa trên các đặc điểm hình thái ngoài vẫn là phương pháp phổ biến. Một số nghiên cứu về sự biến đổi hình thái của mối đã được thực hiện bởi Akhtar (1974) [50], Chootani và Das (1979) [55], Akhtar và Ahmad (1991) [51] v.v dựa trên những nghiên cứu về vị trí và góc của răng hàm trên bên trái mối lính và hình dạng của đầu như chỉ số giữa chiều rộng nhất của đầu và chiều rộng đầu ở gốc hàm (ở mối lính), số đo của chiều dài và rộng của môi trên (ở mối cánh). Một công trình tiêu biểu khác về phân loại học mối phải kể đến là của Manzoor Farkhanda (2002).
Tác giả đã nghiên cứu về sự biến đổi hình thái giữa 52 loài mối thuộc giống Odontotermes từ những nước như Bangladesh, Burma, Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan…. Tác giả đã lựa chọn đo đạc và thống kê 10 thông số hình thái của 52 loài mối này [66]. Sự biến thiên về kích thước của mỗi loài đã được tác giả mô tả khá rõ. Tuy nhiên, có những loài mối có tập tính sinh học khác nhau nhưng hình thái rất giống nhau, như các loài thuộc giống Coptotermes.
Các đặc điểm này là nguyên nhân gây khó khăn và nhầm lẫn cho công tác phân loại dựa vào hình thái. Do đó cần phải có các phương pháp chính xác để bổ trợ. Sands (1998) [75] đã sử dụng các đặc điểm hình thái của ruột như cấu tạo của van 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ruột sau, cấu tạo của hệ thống ống Malpighi để phân loại đến giống và lập cây chủng loại phát sinh của chúng. Tài liệu này là công cụ hữu ích để giải quyết một số trường hợp các mẫu phân loại có đặc điểm hình thái ngoài phân biệt không rõ ràng.
Belyaeva (2006) [53] sử dụng hình thái cấu tạo cơ quan sinh dục ngoài của mối cái để phân biệt các loài thuộc họ Kalotermitidae, Hodotermitidae và Termitidae. Schefffrahn và Nan-Yao Su (2011) [76] đưa ra một số đặc điểm hình thái đặc trưng của mối lính và mối cánh để phân biệt 2 loài mối Coptotermes formosanus và Coptotermes gestroi.