MỞ ĐẦU Mối (Isoptera) là nhóm côn trùng đa hình thái, thuộc lớp côn trùng (Insecta), có sự phân chia đẳng cấp và phân công chức năng rõ rệt, có hoạt động tập tính phức tạp, tạo nên quần tộc có tổ chức xã hội cao. Đến nay, trên thế giới ngƣời ta đã xác định đƣợc hơn 2800 loài mối thuộc 8 họ, phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Hoạt động của mối có ảnh hƣởng quan trọng đến nhiều mặt trong đời sống của con ngƣời. Trong tự nhiên, mối tham gia vào quá trình phân huỷ các chất hữu cơ có nguồn gốc Xenlulose để tạo thành đƣờng và các chất đơn giản hơn trong chu trình chuyển hoá vật chất.
Đồng thời mối là nguồn thức ăn giàu chất dinh dƣỡng cho nhiều loài động vật khác nhau, góp phần duy trì đa dạng sinh học của thế giới tự nhiên. Nhƣng mặt khác nhiều loài mối đã gây ra tác hại to lớn cho nền kinh tế - xã hội ở nhiều nƣớc. Ngƣời ta đã xếp chúng vào nhóm côn trùng kinh tế quan trọng trong số các loài côn trùng gây hại. Đối tƣợng gây hại của mối gồm các công trình kiến trúc (nhà cửa, kho tàng, công sở, khu di tích v.v…); các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện (đê, đập đất); các loại cây (cây công nghiệp, cây di tích, cây xanh đƣờng phố v.
Mỗi loại đối tƣợng có thể bị gây hại bởi nhiều loài mối, nhƣng trong đó chỉ có một hoặc một nhóm loài gây hại chính. Chẳng hạn đối với các công trình kiến trúc vùng đồng bằng chủ yếu là các loài thuộc giống Coptotermes. Do ý nghĩa quan trọng nhƣ vậy, từ lâu mối đã đƣợc nhiều nhà khoa học điều tra nghiên cứu. Nhìn chung, nghiên cứu về mối hiện nay tập trung chủ yếu theo hai hƣớng chính: điều tra đa dạng sinh học của mối và nghiên cứu các giải pháp phòng trừ các loài mối gây hại.
Theo hƣớng điều tra đa dạng sinh học đã có nhiều nghiên cứu đƣợc tiến hành nhƣ: Nguyễn Đức Khảm (1976), Nguyễn Tân Vƣơng (1996), Nguyễn Văn Quảng (2003) v. Phần lớn các điều tra mối chỉ tập trung trong các khu bảo vệ nhƣ vƣờn quốc gia và khu bảo tồn. Các nghiên cứu tổng hợp về thành phần loài mối vùng đồng bằng, thành phố hầu nhƣ còn khá ít ỏi hoặc tản mạn. Đối với nghiên cứu giải pháp phòng trừ mối, đặc biệt là phòng chống nhóm mối nhà Coptotermes đã có những thành công nhất định trong việc sử dụng các hóa chất có độc tính cao đối với 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mối, đặc biệt là áp dụng biện pháp lây nhiễm hóa chất.
Tuy nhiên, do phải sử dụng các chất hóa học ảnh hƣởng đến môi trƣờng và ngƣời sử dụng, do vậy việc tìm kiếm các biện pháp ít độc hay không độc thay thế cho biện pháp trên là một yêu cầu thực tế hiện nay. Hội An là một di tích lịch sử, văn hoá, nơi duy nhất của khu vực Đông Nam Á còn lƣu giữ đƣợc hầu nhƣ nguyên vẹn những nét chính của một đô thị - thƣơng cảng cổ. Nơi đây tàng trữ những thông tin quý giá của quá khứ có chiều sâu hàng trăm, thậm chí hàng ngàn năm về lịch sử, về con ngƣời. Cùng với nó đang tồn tại một kho tàng văn hoá phi vật thể phong phú và đặc trƣng của Việt Nam, có những làng quê in đậm nét cổ với các nghề thủ công truyền thống, phong cảnh hữu tình.
Tất cả tạo nên một giá trị đặc sắc mà không đâu lặp lại. Vì vậy, Tổ chức văn hoá - giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) đã ghi tên Hội An vào danh mục di sản văn hoá thế giới vào ngày 4 tháng 12 năm 1999 và điều này đã giúp Hội An có nhiều cơ hội phát triển mạnh mẽ. Sức hấp dẫn lớn của Hội An đƣợc quy tụ trong những giá trị vật thể và phi vật thể, sinh ra từ trong quá khứ, lớn lên và phát triển trong hiện tại, cần đƣợc bảo tồn và phát huy trong tƣơng lai. Theo tài liệu thống kê, đến nay Hội An có gần 1.360 di tích, danh thắng.
Riêng các di tích đƣợc phân thành 12 loại gồm: 1.064 nhà cổ, 19 chùa, 34 miếu thờ thần linh, 23 đình, 39 nhà thờ tộc, 5 hội quán, 4 nhà thờ thánh thất, 4 di tích cách mạng, 1 công trình văn hoá,11 giếng nƣớc cổ, 1 cầu, 44 ngôi mộ cổ. Trong khu vực đô thị cổ có hơn 1. Các di tích của khu phố cổ Hội An có rất nhiều kết cấu bằng gỗ và các vật liệu truyền thống, hiện nay đang bị xuống cấp mạnh bởi nhiều yếu tố thời gian, thời tiết, khí hậu và sinh vật. Một trong những tác nhân gây xuống cấp khu di tích này là sự tấn công phá hoại của mối.
Mối là loài côn trùng phân bố và gây hại phổ biến đối với các di tích của phố cổ Hội An vì ở đây có các điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của mối. Giá trị lớn nhất của khu di tích đô thị cổ Hội An chính là giá trị tổng thể do các di tích đơn lẻ hợp thành. Ngoài khu vực phố cổ còn rất nhiều di tích trong vùng tạo nên một quần thể di tích lịch sử, kiến trúc, nhân văn. Việc đầu tƣ để xử lý phòng 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trừ mối không chỉ nhằm xử lý phòng trừ mối cho những di tích có giá trị đặc biệt mà phải xử lý và phòng trừ tổng thể các di tích đơn lẻ hợp thành trong khu vực, bao gồm: các di tích lịch sử, các di tích kiến trúc nghệ thuật, đình chùa, miếu mạo, cầu.
Nói chung là toàn bộ khu di tích phố cổ Hội An, không phân biệt của Nhà nƣớc quản lý hay thuộc quyền sở hữu của ngƣời dân hay tổ chức khác. Muốn vậy cần phải điều tra nghiên cứu thành phần loài mối; xác định loài gây hại chính; nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học quan trọng của chúng, làm cơ sở đề xuất biện pháp phòng trừ thích hợp và hiệu quả thì mới đảm bảo xử lý mối triệt để lâu dài cho toàn bộ khu di tích phố cổ Hội An. Mục tiêu đề tài. + Xác định thành phần loài mối ở khu phố cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam + Xác định các loài gây hại chính và đề xuất biện pháp phòng trừ chúng Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
+ Cung cấp các dẫn liệu có hệ thống và đầy đủ nhất về thành phần loài mối ở khu vực phố cổ Hội An tính đến nay. + Xác định đƣợc các loài gây hại chính, đồng thời cung cấp các dẫn liệu sinh học, sinh thái học của các loài dùng làm cơ sở khoa học đề xuất biện pháp phòng trừ chúng cho khu vực phố cổ Hội An và mở rộng cho các địa phƣơng khác. + Đề xuất các biện pháp, kỹ thuật phòng trừ các loài gây hại chính tại khu phố cổ Hội An. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
+ Nghiên cứu thành phần loài mối tại khu vực phố cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam + Các biện pháp và thí nghiệm phòng trừ mối cho một số công trình đặc thù của phố cổ Hội An và đánh giá hiệu quả trên các loài gây hại chính Do thời gian nghiên cứu ngắn, khả năng có hạn, nên luận văn chắc chắn còn nhiều điểm khiếm khuyết, rất mong đƣợc sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nhiên cứu mối trên thế giới Công trình nghiên cứu của Hagen (1858) đƣợc coi là công trình đầu tiên có tính hệ thống học về mối trên thế giới [11]. Kể từ đó bắt đầu thời kỳ phát triển mạnh mẽ các nghiên cứu về phân loại học hình thái mối. Theo kết quả nghiên cứu của Wasmann (1893) về phân loại và sinh học 4 loài Termes redemani, Termes azarelli, Termes feae và Termes xenotermitis đƣợc tìm thấy ở India và Ceylon trong khu hệ mối Đông Phƣơng và một vài loài thuộc khu hệ Brasil, kèm theo một số dẫn liệu về sinh vật sống chung với mối (termitophiles).
Sau đó, rất nhiều nghiên cứu khác về mối cũng đƣợc công bố. Haviland (1898) nghiên cứu hệ thống học và sinh học mối ở Indonesia và Malaysia. Silvestri (1903) đã phát hiện 39 loài thuộc 2 giống ở khu vực Trung và Nam Mỹ. Sau đó, Holmgren (1906, 1910) cũng mô tả tổng cộng 19 giống, 65 loài mối cho khu hệ này.
Tác giả cũng chính là ngƣời đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và đặt nền móng cho phân loại học hiện đại về mối trong đó sử dụng hình thái hàm trên làm yếu tố phân loại. Sự sắp xếp, thành lập các họ mà ông đƣa ra về cơ bản vẫn đƣợc sử dụng cho đến ngày này. Escherich (1909, 1911) và Bugnion et al. Holmgren (1912, 1913) đã nghiên cứu phân loại và một phần sinh học mối khu hệ Ấn Độ.
Müller (1915, 1921) mô tả một số giống mối, trong đó tập trung chủ yếu về các loài thuộc giống Anoplotermes. Oshima (1919) đã nghiên cứu khu hệ mối Đài Loan và Philippin. John (1913, 1925) đã tiến hành nghiên cứu phân loại và sinh học mối ở Ceylon, Malaysia và Indonesia. Muộn hơn là Light và Wilson với các nghiên cứu về mối ở Trung Quốc và Philippin Light (1929, 1931, 1934); Light và Wilson (1936).
Kalshoven đã đầu tƣ một thời gian khá dài cho việc điều tra và nghiên cứu mối ở Java, các công bố của ông đƣợc đăng tải trong những năm 1930, 1941, 1950, 1952 đến 1960 [68]. Đặc biệt, Snyder (1949) đã cho xuất bản cuốn “Danh mục về mối trên thế giới”, trong đó ông lập đƣợc một danh sách các loài 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuộc 5 họ (Mastotermitidae, Kalotermitidae, Hodotermitidae, Rhinotermitidae và Termitidae) với 130 giống, bao gồm cả những loài hoá thạch [69]. Giai đoạn nửa sau của thế kỷ 20 đến nay, các công trình nghiên cứu hệ thống học về mối đã phát triển khá mạnh mẽ dựa trên các công trình cơ bản của Snyder, Holmgren và Emerson. Đầu tiên phải kể tới sự tăng nhanh về số lƣợng loài đƣợc phát hiện.
Năm 1949, Snyder liệt kê tổng cộng đƣợc 1.745 loài mối trên toàn thế giới; nhƣng hơn 50 năm sau, theo số liệu công bố của Constantinho (2007), tổng số loài mối đƣợc phát hiện trên toàn thế giới đã là 2.858 loài, thuộc 286 giống [70]. Các danh mục thành phần loài của bộ Cánh đều hoặc của một họ mối cho từng khu vực cũng lần lƣợt đƣợc công bố, phần lớn các công trình này đều kèm theo khoá định loại riêng và mô tả cho từng loài.