Chương 1 cung cấp cho người đọc về mục tiêu, đối tượng phạm vi nghiên cứu, và ý nghĩa hay kỳ vọng đóng góp của nghiên cứu này. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây Chương 2 cung cấp cơ sở lý thuyết nền tảng về lạm phát, đồng thời khái quát lại những nghiên cứu trước đây về các nhân tố tác động như thế nào tới lạm phát đặc biệt là mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và lạm phát. Mỗi bài nghiên cứu sử dụng những loại mô hình khác nhau, từ những mô hình đơn giản như OLS cho đến mô hình dữ liệu bảng, VECM hay mô hình VAR. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3 cung cấp nền tảng lý thuyết về mô hình nghiên cứu và các bước thực hiện kiểm định.
Bài nghiên cứu sử dụng theo mô hình phân phối trễ tự hồi quy ARDL theo tác giả Abdul Jalil, Rabbia Tariq, Nazia Bibi (2013). Chƣơng 4: Nội dung và các kết quả nghiên cứu Chương 4 đưa ra từng bước thực hiện các mô hình nghiên cứu cũng như kết quả và thảo luận về kết quả nghiên cứu. Chƣơng 5: Kết luận Chương 5 kết luận mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và lạm phát tại Việt Nam. Đồng thời xác định trong ngắn hạn mối quan hệ giữa các nhân tố khác đến lạm phát.
5 Chƣơng 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY Chương 2 cung cấp lý thuyết nền tảng về lạm phát, tình hình lạm phát trong thời gian qua ở Việt Nam và những nghiên cứu trước đây về các nhân tố tác động như thế nào tới lạm phát cũng như mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và lạm phát. Định nghĩa về lạm phát “Lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung theo thời gian” (Mankiw, 2003). Định nghĩa này hàm ý rằng lạm phát không phải là hiện tượng tăng giá của một vài hàng hoá, hay một một nhóm hàng hoá nào đó. Và nó cũng không phải là hiện tượng giá cả chung tăng lên một lần duy nhất.
Lạm phát hàm ý rằng giá cả phải tăng lên một cách liên tục. Nếu sự tăng lên một lần của giá cả thì hiện tượng này chỉ dừng lại như là một cú sốc về giá chứ chưa phải lạm phát. Để hạn chế các tranh luận không cần thiết, các nhà kinh tế đưa ra các định nghĩa rõ ràng hơn như lạm phát cơ bản (core inflation) hay lạm phát cơ sở (underlying inflation). Với cách tính các chỉ số lạm phát này, bằng nhiều phương pháp thống kê khác nhau, các nhà thống kê đã loại trừ được các biến động nhất thời như các cú sốc về giá dầu, yếu tố thời tiết… để thấy được xu hướng cơ bản và ổn định của giá.
Các nhân tố tác động đến lạm phát Thâm hụt ngân sách Bội chi ngân sách nhà nước ở mức cao đều có nguy cơ gây ra lạm phát bởi vì bội chi có thể được bù đắp bằng phát hành tiền hoặc vay nợ đều gây nên lạm phát tăng. Thứ nhất, việc phát hành tiền trực tiếp làm tăng cung tiền tệ trên thị trường gây lạm phát cao, đặc biệt khi việc tài trợ thâm hụt lớn và diễn ra liên tục thì nền kinh tế sẽ trải qua giai đoạn lạm phát cao và kéo dài. Sự gia tăng cung tiền có thể 6 không làm gia tăng lạm phát nếu nền kinh tế đang đà tăng trưởng, mức cầu tiền giao dịch tăng lên phù hợp với mức tăng cung tiền. Tuy nhiên, trong trường hợp khu vực tư nhân đã thỏa mãn với lượng tiền họ đang nắm giữ (mức cầu tiền tương đối ổn định) thì sự gia tăng của cung tiền làm cho lãi suất thị trường giảm, nhu cầu tiêu dùng về hàng hóa dịch vụ và nhu cầu đầu tư sẽ tăng lên kéo theo sự gia tăng của tổng cầu nền kinh tế, giá cả sẽ tăng lên gây lạm phát.
Người ta gọi trường hợp khi chính phủ tài trợ thâm hụt bằng cách phát hành tiền là hiện tượng chính phủ đang thu thuế lạm phát từ những người đang nắm giữ tiền mặt. Thứ hai, bù đắp thâm hụt bằng nguồn vay nợ trong nước hoặc nước ngoài, việc vay nợ bằng hình thức phát hành trái phiếu ra thị trường vốn. Nếu việc phát hành diễn ra liên tục sẽ làm tăng lượng cầu quỹ cho vay, do đó làm lãi suất thị trường tăng. Để giảm lãi suất nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng trung ương phải can thiệp bằng cách mua các trái phiếu đó, làm tăng lượng tiền lưu thông gây nên lạm phát.
Hoặc nếu Chính phủ vay nợ từ nước ngoài, phải đổi từ ngoại tệ ra nội tệ thông qua Ngân hàng trung ương, từ đó làm tăng cung tiền gây lạm phát. Tỷ giá hối đoái Tác động của tỷ giá hối đoái đến lạm phát được khái niệm rộng ra là sự chuyển dịch tỷ giá hối đoái hay truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát. Tác động này được thể hiện thông qua ba kênh truyền dẫn sau: Kênh thứ nhất: Tác động của tỷ giá tới lạm phát qua xuất nhập khẩu ròng. Đó là khi đồng nội tệ giảm giá so với đồng tiền nước ngoài, xuất khẩu ròng tăng lên, cán cân thương mại có thể được cải thiện; do xuất khẩu ròng là một thành phần của tổng cầu nên khi xuất khẩu ròng tăng làm lạm phát gia tăng.
Kênh thứ hai: Tác động của tỷ giá tới lạm phát qua cán cân thanh toán. Khi tỷ giá tăng, xuất nhập khẩu ròng sẽ tăng lên, góp phần cải thiện tình trạng cán cân thương mại. Đồng thời, lãi suất trong nước tăng lên, trong ngắn hạn luồng vốn đổ vào trong nước tăng làm cán cân vốn tăng lên, từ đó cán cân thanh toán tổng thể được cải thiện. Khi cán cân thanh toán tổng thể thặng dư, tức là luồng vốn nước ngoài đổ vào trong nước tăng lên, lúc này sẽ có hai khả năng xảy ra: hoặc Ngân 7 hàng trung ương sẽ phải cung ứng thêm tiền để mua ngoại tệ nhằm giữ tỷ giá không bị giảm xuống để khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, mặt khác để tăng cường dự trữ ngoại hối quốc gia.
Như vậy, tác động không mong muốn là cung tiền tăng lên, lạm phát sẽ tăng lên. Hoặc nếu ngân hàng trung ương không vì mục tiêu giữ cho đồng nội tệ được định giá thấp để khuyến khích xuất khẩu và giả định rằng dự trữ ngoại hối đã đủ mức cần thiết và không cần tăng thêm, trong trường hợp cán cân tổng thể thặng dư thì vẫn có một lượng ngoại tệ tăng lên trong nền kinh tế. Với những nước có nền kinh tế bị đôla hóa ở mức độ cao, tổng phương tiện thanh toán của nền kinh tế trong trường hợp này vẫn tăng lên. Kênh thứ ba: Tác động của tỷ giá tới lạm phát qua giá hàng nhập khẩu.
Giá hàng nhập khẩu bị tác động bởi hai thành phần là giá nhập khẩu trên thị trường thế giới và tỷ giá danh nghĩa. Khi tỷ giá danh nghĩa tăng làm giá hàng nhập khẩu tăng. Nếu là hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất, khi tỷ giá tăng dẫn đến chi phí các yếu tố đầu vào tăng, sản phẩm đầu ra cũng phải tăng giá. Nếu là hàng nhập khẩu tiêu dùng, khi tỷ giá tăng dẫn đến giá của hàng hóa tính bằng nội tệ tăng nên cũng là một nguyên nhân gây ra lạm phát.
Tuy nhiên, ảnh hưởng của giá hàng nhập khẩu đến lạm phát sẽ biểu hiện rõ hơn khi quốc gia có tỷ lệ nhập khẩu/GDP lớn. Lãi suất Lãi suất là biến số kinh tế nhạy cảm, một sự thay đổi của lãi suất sẽ làm thay đổi hành vi sản xuất, tiêu dùng của xã hội. Lãi suất gia tăng sẽ làm giảm sức hấp dẫn của việc nắm giữ tiền trong hiện tại làm tổng lượng cầu giảm xuống từ đó tác động đến lạm phát. Ngược lại, một sự sụt giảm trong lãi suất sẽ khuyến khích mọi người tiêu dùng nhiều hơn, làm giá cả hàng hóa gia tăng và tác động đến lạm phát.
Vì vậy, ngân hàng trung ương xem lãi suất là một kênh quan trọng của chính sách tiền tệ để điều hành kinh tế vĩ mô, nhằm điều tiết lạm phát theo mục tiêu đề ra. Cung tiền Lý thuyết số lượng tiền tệ cho rằng lượng tiền hiện có trong nền kinh tế quyết định giá trị của tiền và sự gia tăng khối lượng tiền tệ là nguyên nhân chủ yếu 8 gây ra lạm phát. Việc chính phủ tăng cung tiền sẽ làm gia tăng tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ, từ đó làm cho giá cả tăng lên gây nên lạm phát.2 Quan điểm các trƣờng phái kinh tế về nguyên nhân lạm phát Về lý thuyết, giá cả hàng hoá trong nền kinh tế là giá cả cân bằng giữa tổng cung và tổng cầu hàng hoá và dịch vụ. Như vậy, một sự tăng lên liên tục của giá có thể bắt nguồn tổng cung hoặc tổng cầu hoặc cả hai.
Nếu giá cả tăng lên bắt nguồn từ sự tăng lên của phía cầu nhanh hơn phía cung thì gọi là lạm phát do cầu kéo (demandpull inflation); và ngược lại nếu chi phí doanh nghiệp tăng lên do tiền lương, lãi suất, thuế hoặc giá cả đầu vào… Khi đó tổng cung bị sụt giảm, hàng hoá thiếu hụt và làm giá tăng lên thì gọi là lạm phát do chi phí đẩy (cost-push inflation). Trên thực tế rất khó để xác định sự tăng lên của lạm phát là do bắt nguồn từ chi phí đẩy hay do cầu kéo. Một nguyên nhân khác nữa, lạm phát trong hầu hết các trường hợp là do sự kết quả tác động tổng hợp từ phía cung lẫn phía cầu. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự cần thiết phải phân tích nhân tố tạo ra lạm phát ở các hướng có tính khả thi cao hơn, nhằm phục vụ tốt hơn cho công cụ hoạch định chính sách của nhà nước nhằm kiểm soát lạm phát.
Các trường phái kinh tế khác nhau thì có cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu về lạm phát. Ví dụ như, có sự khác biệt giữa lạm phát trong ngắn hạn và dài hạn; lạm phát trong nền kinh tế đóng so với nền kinh tế mở; lạm phát trong cơ cấu thị trường cạnh tranh hoàn hảo hay độc quyền; lý thuyết lạm phát với giả định là thông tin hoàn hảo hay không hoàn hảo… Tổng quát lại có bốn nhóm tiếp cận để giải thích lạm phát. Nhóm thứ nhất, lạm phát bắt nguồn chủ yếu là từ tiền tệ; Nhóm thứ hai, lạm phát bắt nguồn từ những nhân tố phi tiền tệ; Nhóm thứ ba, lạm phát bắt nguồn từ kỳ vọng và Nhóm thứ tư, lạm phát bắt nguồn từ các yếu tố chính trị.