phần mở đầu trình bày các nội dung lý do thực hiện đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi thu thập dữ liệu, phương pháp nghiên cứu được lựa chọn sử dụng, những đóng góp mới của luận văn, kết cấu và dự báo kết quả nghiên cứu. Giúp hình thành nên cái nhìn tổng thể về quá trình thực hiện đề tài. 4 Chương II là tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách cũng như giữa lạm phát, thâm hụt ngân sách với hai biến ngoại sinh là cung tiền và độ mở thương mại. Đây sẽ là chương nền tảng lý thuyết chính của bài luận văn.
Chương III đề cập đến mô hình và phương pháp nghiên cứu bao gồm các thành phần quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, dữ liệu và đo lường các biếncùng và quan trọng là phần phương pháp nghiên cứu với bao gồm kiểm định nội sinh Durbin – Wu Hausman, hệ phương trình tác động đồng thời và phương pháp bình phương tối thiểu gián tiếp. Chương IV là kết quả nghiên cứu và những bản luận từ kết quả này. Trình bày kết quả hồi quy từ mô hình nghiên cứu, chiều tác động và ý nghĩa thống kê của các tham số, từ đó làm cơ sở bàn luận về mối quan hệ giữa lạm phát, thâm hụt với các biến cung tiền và độ mở thương mạivà giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách, tại Việt Nam. Cuối cùng, Chương V là kết luận chung về kết quả nghiên cứu và đưa ra những gợi ý chính sách trong việc kiểm soát thâm hụt ngân sách, cung tiền và độ mở thương mại tại Việt Nam, bên cạnh đó là nêu ra những hạn chế của bài nghiên cứu và đề xuất hướng giải quyết trong tương lai để hoàn thiện hơn.7 Dự báo kết quả nghiên cứu Với mục tiêu nghiên cứu nêu trên, bài luận văn kỳ vọng kết quả nghiên cứu sẽ cho thấy được mối quan hệ đồng thời, tương quan lẫn nhau giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách.
Theo đó, thâm hụt ngân sách sẽ làm gia tăng lạm phát, và ngược lại sự gia tăng lạm phát càng làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách thêm trầm trọng. Cũng như tìm thấy được sự tác động rõ nét từ các biến số kinh tế vĩ mô là cung tiền và độ mở thương mại lên lần lượt lạm phát và thâm hụt. Cụ thể đối với lạm phát, cung tiền sẽ có mối quan hệ đồng biến, và độ mở thương mại sẽ có mối quan hệ nghịch biến. Cùng với kỳ vọng về sự tác động của cung tiền làm gia tăng mức độ 5 thâm hụt và cuối cùng là sự tác động của độ mở thương mại làm sụt giảm mức độ thâm hụt ngân sách Việt Nam.
Như vậy, với nhưng nội dung nêu trên đã cho thấy tính cần thiết để thực hiện một nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách tại Việt Nam. Để có thể nghiên cứu chuyên sâu, phần tiếp theo đây tác giả đề cập đến tổng quan cơ sở lý thuyết và lượt khảo qua các nghiên cứu trước đây có liên quan đến vấn đề nghiên cứu trong nước và trên thế giới. 6 CHƯƠNG II TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ MỐI QUAN HỆ LẠM PHÁT, THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ VĨ MÔ 2.1 Tổng quan lý thuyết 2. Mối quan hệ giữa lạm phát, thâm hụt ngân sách vớicung tiền và độ mở thương mại 2.1 Giữa lạm phát với cung tiền và độ mở thương mại Các chỉ số kinh tế vĩ mô đều có mối quan hệ, liên kết một cách trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau.
Để củng cố cho cơ sở lý thuyết về mối quan hệ của lạm phát, bài luận văn nêu ra các cơ sở lý thuyết của lạm phát với cung tiền và độ mở thương mại. Cung tiền và lạm phát Ta cùng điểm qua trường phái trọng tiền mà tiêu biểu là Milton Friedman (1956), theo lý thuyết về lượng tiền tệ, mối quan hệ giữa cung tiền và lạm phát được thể hiện bằng công thức như sau: MV=PY Trong đó: M là lượng tiền, V là vòng quay của tiền, P là giá cả và Y là sản lượng (GDP thực). Như vậy, với giả định sản lượng nền kinh tế và vòng quay tiền tệ không thay đổi, cung tiền và mức giá cả có quan hệ đồng biến với nhau. Đây là cơ sở lý thuyết vững chắc nhất giải thích sự tác động đồng biến của cung tiền lên tỷ lệ lạm phát.
Độ mở thương mại và lạm phát 7 Theo như David Romer (1983), độ mở thương mại càng lớn thì lạm phát càng nhỏ. Điều này là đúng với hầu hết các quốc gia, và đặc biệt là mối quan hệ này càng rõ nét hơn ở những quốc gia có nền chính trị ít ổn định và Ngân hàng Trung ương phụ thuộc nhiều vào Chính phủ. Tuy nhiên, mối quan hệ này lại không tồn tại ở những quốc gia nhỏ nhưng có trình độ phát triển kinh tế cao. Có 02 hướng lý giải cho mối quan hệ nghịch biến này là: Độ mở thương mại có tính nội sinh: tỷ lệ nhập khẩu trong GDP không chỉ phụ thuộc vào quy mô nền kinh tế mà còn phụ thuộc vào chính sách của quốc gia đó.
Ví dụ các quốc gia theo đuổi chính sách bảo hộ, lần lượt áp dụng các chính sách nhằm phục vụ cho các nhóm nắm quyền, từ đó gây nền tình trạng thâm hụt ngân sách, tỷ lệ lạm phát cao. Từ đó, có thể nhận thấy mối quan hệ nghịch biến giữa độ mở thương mại và lạm phát suất phát từ sự lựa chọn trong chính sách mở cửa của mỗi quốc gia. Giải trình ngân sách: mối quan hệ nghịch biến giữa độ mở thương mại và lạm phát phản ảnh liên quan đến việc ngân sách nhà nước vàquyền lực lãnh chúa1hơn là sự thiếu thốn tự ràng buộc trong chính sách tiền tệ. Có hai hình thức cụ thể như sau:Thứ nhất doanh thu từ hoạt động thuế quan ngày càng tăng đối với nền kinh tế ngày càng mở cửa thương mại.
Như thế các nước nhỏ có thể sẽ có cơ cấu nguồn thu phần lớn đến từ thuế xuất nhập khẩu, và xem nhẹ các nguồn thu ngân sách khác, bao gồm cả “quyền của lãnh chúa”. Kết quả này dẫn đến tỷ lệ lạm phát thấp hơn.Thứ hai là độ co giản của cầu đồng nội tệ đối với lạm phát sẽ cao hơn trong nền kinh tế mở cửa: khi thương mại được mở rộng, sẽ làm cho lượng ngoại tệ xuất hiện nhiều hơn, từ đó làm cho đồng nội tệ dễ bị thay thế. Như thế tỷ lệ lạm phát sẽ thấp hơn trong nền kinh tế mở cửa nhiều hơn. 1 Quyền lực lãnh chúa: là chênh lệch giữa giá trị đồng tiền phát hành và chi phí để tạo ra đồng tiền đó của Chính phủ.
Chính phủ Mỹ tiêu tốn 0,05 đô là để phát hành ra 1 đô la, như thế quyền của lãnh chúa là 0,95 đô la.2 Giữa thâm hụt ngân sách với cung tiền và độ mở thương mại Cung tiền Cơ sở lý thuyết về sự tác động của cung tiền lê thâm hụt ngân sách chủ yếu xuất phát từ lập luận về sự tác động gián tiếp thông qua lạm phát. Cung tiền ở mức cao và liên tục gây nên tình trạng dư thừa trong lưu thông và đẩy lãi suất tăng cao là nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát. Một khi lạm phát gia tăng làm đe dọa đến ngân sách của Chính phủ ở cả hai khía cạnh nguồn thu và chi tiêu. Cụ thể đối với nguồn thu thuế thu nhập khi lạm phát đe dọa đến lợi nhuận doanh nghiệp, gây tổn hại xã hội và tỷ lệ thất nghiệp.
Còn đối với các khoản chi chủ yếu làm gia tăng chi thường xuyên, chi đầu tư và các khoản chi phú lợi xã hội. Độ mở thương mại Khi độ mở thương mại quốc gia gia tăng - một tính hiệu trực tiếp từ việc quốc gia đó thực hiện sâu rộng chính sách tự do thương mại, điều này đặt ra câu hỏi là nguồn thu thuế của họ có bị đe dọa hay không khi hàng loạt những mức thuế suất xuất - nhập khẩu phải bị cắt giảm hoặc bãi bỏ bởi các hiệp định thương mại song phương và đa phương. Theo lý thuyết về lợi thế tuyệt đối và lý thuyết về lợi thế tương đối của Adam Smith, tất cả đều ủng hộ quan điểm cho rằng tự do thương mại sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng tại quốc gia. Sau này lý thuyết được phát triển bởi Mô hình Hechscher - Ohlin, thuyết chu kỳ sống sản phẩm, thuyết bảo hộ hợp lý đã khẳng định thêm sức ảnh hưởng của thương mại quốc tế đến nền kinh tế trong nước.
Từ đó gia tăng tỷ suất sinh lợi, sự giàu có cho nền kinh tế, thúc đẩy nguồn thu thuế và hạn chết thâm hụt ngân sách ở các quốc gia đang rơi vô trường hợp này. Hơn nữa, cũng xuất phát từ cơ sở phần tích của David Romer (1983), độ mở thương mại sẽ tác động trực tiếp đến nguồn thu thuế quan, đặc biệt là các nước nhỏ, chưa hội nhập nhiều và kinh tế chưa phát triển. Khi đó nguồn thu thuế quan sẽ trở thành nguồn thu quan trọng đối với ngân sách nhà nước, làm giảm mức độ thâm hụt ngân sách nếu như nó diễn ra. Mối quan hệ giữa lạm phát và thâm hụt ngân sách 2.1 Thâm hụt ngân sách tác động đến lạm phát Điểm qua cơ sở lý thuyết về lạm phát và thâm hụt ngân sách.
Chúng ta có thể nhận thấy phần lớn các nhận định xuất phát từ lập luận đến từ trường phái trọng tiền cho rằng. Khi nền kinh tế đạt mứctăng trưởng nóng, nó đòi hỏi một lượng cung tiền lớn, nếu số dư tiền quá lớn so với nhu cầu thực tế sẽ gây ra những hệ quả xấu đến nền kinh tế như là đồng nội tệ mất giá đi kèm và tỷ lệ lạm phát tăng cao. Bằng cách ổn định nền kinh tế, cơ quan phát hành tiền tệ có thể lựa chọn một lượng cung tiền nhất định vừa đủ để kích thích tăng trưởng mà vẫn kiểm soát được lạm phát Friedman (1968), Sargent và Wallace (1981) cùng dựa trên lập luận rằng chính sách tài khóa sẽ là công cụ hữu hiệu giúp Chính phủ tài trợ cho các khoản thâm hụt, tuy nhiên nó sẽ dẫn đến một hệ quả không thể tránh khỏi là lạm phát gia tăng.Thâm hụt ngân sách là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến lạm phát, chủ yếu xuất phát từ trong phạm vi các khoản tín dụng của Chính phủ, đến từ Hamburger và Zwick (1981). Như vậy, có thể nhận thấy thâm hụt ngân sách tác động đến lạm phát chủ yếu thông qua gián tiếp bởi các kênh tài trợ cho thâm hụtngân sách.