Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu liên quan về nợ công và thâm hụt ngân sách. Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị.TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ NỢ CÔNGVÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH 2.1 Nợ công: Xuất phát từ sự khác biệt trong khái niệm khu vực công nên cách xác định nợ công của các cơ quan quản lý nợ công và tổ chức kinh tế - tài chính trên thế giới cũng khác nhau. Nhìn chung có thể chia các khái niệm này thành hai nhóm: nợ công theo nghĩa hẹp và nợ công theo nghĩa rộng. Theo Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Nợ công theo nghĩa rộng, là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt động do ngân sách nhà nước quyết định hay trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước và trong trường hợp vỡ nợ, nhà nước phải trả nợ thay). Theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương và nợ của các tổ chức độc lập được Chính phủ bảo lãnh thanh toán.
Quan niệm về nợ công của Ngân hàng Thế giới cũng tương tự như quan niệm của Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc, bao gồm bốn nhóm chủ thể: nợ của Chính phủ Trung ương và các Bộ, ban, ngành trung ương; nợ của các cấp chính quyền địa phương; nợ của Ngân hàng Trung ương; và nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn, hoặc việc quyết lập ngân sách phải được sự phê duyệt của Chính phủ hoặc Chính phủ là người chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ. Tùy thuộc thể chế kinh tế và chính trị, quan niệm về nợ công ở mỗi quốc gia cũng có sự khác biệt. Tại hầu hết các nước trên thế giới, Luật Quản lý nợ công đều xác định nợ công gồm nợ của chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh. Một số nước, nợ công còn bao gồm nợ của chính quyền địa phương (Đài Loan, Bungari, Rumani.), nợ của doanh nghiệp nhà nước phi lợi nhuận (Thái Lan, Indonesia.2 Thâm hụt ngân sách Trong kinh tế học vĩ mô, thâm hụt ngân sách là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách.
Trường hợp ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là thặng dư ngân sách. Thu của chính phủ không bao gồm khoản đi vay. Đi vay chính là một cách mà chính phủ tài trợ cho thâm hụt ngân sách. Trong lịch sử, phát hành thêm tiền đã từng là một cách tài trợ cho thâm hụt ngân sách, nhưng do hậu quả nghiêm trọng của nó là dẫn đến lạm phát ở mức cao nên ngày nay cách này hầu như không được chính phủ của bất cứ quốc gia nào sử dụng nữa.
Thâm hụt ngân sách được chia thành hai loại: - Thâm hụt cơ cấu: là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng. - Thâm hụt chu kỳ: là các khaorn thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ, khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên. Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên có tác dụng quan trọng trong việc đánh giá ảnh hưởng của chính sách tài khóa mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào, giúp cho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế.
Thâm hụt ngân sách do rất nhiều nguyên nhân và có sự ảnh hưởng khác nhau đến sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế. Về cơ bản, tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước gồm các nguyên nhân chính sau: - Thất thu thuế nhà nước: Thuế là nguồn thu quan trọng, chính yếu và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh các nguồn thu khác như doanh nghiệp nhà nước, tài nguyên, nhận viện trợ và đi vay. Tuy nhiên, với một quốc gia có sự quản lý chưa chặt chẽ và hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập đã tạo kẻ hở cho các 7 cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn tránh trách nhiệm nộp thuế, gây thất thu một nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, thực hiện chính sách kích cầu để giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư và vượt qua các giai đoạn khó khăn của nền kinh tế, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế được thực hiện khá nhiều trong giai đoạn hiện nay.
Nhưng mặt trái của việc miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu là ảnh hưởng tới nguồn thu của ngân sách nhà nước, làm ngân sách nhà nước duy trì một khoản thâm hụt lớn trong các giai đoạn kinh tế khó khăn. - Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn: tăng chi tiêu chính phủ có ưu điểm là giúp nền kinh tế tăng trưởng khi tạo ra được việc làm trong nền kinh tế và quan trọng hơn là xây dựng và nâng cao được cơ sở hạ tầng cho sự phát triển lâu dài của nền kinh tế không được thực hiện hiệu quả, tức là nguồn vốn đầu tư quá nhiều nhưng không tạo ra được giá trị gia tăng cho nền kinh tế trong tương lai thì sẽ có tác động tiêu cực trong lâu dài. Việc chi tiêu lớn những không mang lại hiệu quả sẽ tạo ra nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát hoặc rủi ro thanh khoản trong tương lai vì thiếu cơ chế giám sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính. Đa số các nhà kinh tế đều đồng ý rằng nếu chi tiêu chính phủ vượt ra khỏi một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở sự phát triển của nền kinh tế thông qua hiệu ứng “lấn át” của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân trong nền kinh tế.
Và điều này lại gây ra sự phân bổ nguồn lực không hợp lý làm hiệu quả cả nền kinh tế giảm sút đồng thời thâm hụt ngân sách lại càng tăng.3 Mối quan hệ giữa nợ công và thâm hụt ngân sách Xét về bản chất kinh tế, nợ công xuất phát từ thâm hụt ngân sách, hay tổng chi tiêu của chính phủ nhiều hơn tổng thu của mình. Để làm giảm mức thâm hụt này, chính phủ phải tăng nguồn thu ngân sách, hoặc cắt giảm chi tiêu. Cắt giảm chi tiêu không phải là một việc dễ dàng trong ngắn hạn, khi những kế hoạch chi tiêu của chính phủ đã được hoạch định cụ thể. Chính vì thế, chính phủ chỉ có thể tìm cách gia tăng tổng nguồn thu của mình.
Có hai cách để gia tăng tổng nguồn thu, thứ nhất chính phủ có thể gia tăng thuế. Tuy nhiên, tăng thuế có thể ảnh hưởng tiêu cực, đó là làm giảm tiêu dùng, giảm động lực lao động và sản xuất dẫn đến suy thoái kinh 8 tế. Thứ hai, chính phủ có thể tăng nguồn thu thông qua vay nợ, cả vay trong nước và vay quốc tế. Các khoản vay này sẽ làm gia tăng nợ công.
Như vậy,có thể thấy nợ công là hệ quả trực tiếp của thâm hụt ngân sách. Để đạt được tốc độ phát triển nhanh, chính phủ các nước thường sử dụng chính sách tài khoá mở rộng, tăng chi tiêu chính phủ, giảm thuế sẽ kích thích tổng cầu tăng, đẩy mạnh sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, thực hiện chính sách tài khoá mở rộng đồng nghĩa với việc gia tăng thâm hụt ngân sách, chính phủ phải vay nợ để bù đắp thâm hụt. Việc sử dụng chính sách tài khoá mở rộng trong thời gian dài sẽ làm gánh nặng nợ lớn dần lên.
Trong trường hợp tốc độ tăng thu ngân sách không theo kịp với tốc độ tăng của các nghĩa vụ trả nợ, chính phủ buộc phải sử dụng biện pháp vay mới để trả nợ cũ. Tình trạng này kéo dài sẽ dẫn tới nguy cơ mất khả năng trả nợ của chính phủ, nếu tổng số nghĩa vụ nợ phải trả vượt quá khả năng thu của ngân sách. Nhìn chung, trang trải thâm hụt ngân sách bằng vay trong nước hay vay nước ngoài đều có những ảnh hưởng bất lợi tới môi trường kinh tế vĩ mô. Ở các nước đang phát triển, thâm hụt ngân sách thường được tài trợ bằng một giải pháp hỗn hợp giữa vay trong nước và vay nước ngoài.
Kết cấu hỗn hợp này phụ thuộc vào khả năng huy động nguồn vốn trong nước, lãi suất và các điều kiện vay nước ngoài. Trong trường hợp thâm hụt ngân sách được tài trợ bằng vốn vay trong nước, khi đó một phần nguồn lực tài chính của nền kinh tế sẽ được chuyển dịch từ khu vực tư nhân sang khu vực nhà nước thông qua kênh trái phiếu chính phủ. Việc huy động này sẽ tác động đến thị trường vốn nói chung, làm tăng cầu tín dụng, đẩy lãi suất lên cao. Lãi suất tăng đến lượt nó làm tăng chi phí đầu tư, giảm nhu cầu đầu tư của nền kinh tế, có thể dẫn đến “hiệu ứng kéo lùi đầu tư”.
Trong trường hợp thâm hụt được tài trợ bằng vay nước ngoài, tác động kéo lùi đầu tư có thể được hạn chế, do chính phủ sử dụng các nguồn lực bổ sung từ bên ngoài thay vì dùng các nguồn lực của khu vực tư nhân trong nước. Việc sử dụng một phần vốn vay nước ngoài để tài trợ cho thâm hụt ngân sách có thể làm giảm bớt căng thẳng trên thị trường tín dụng trong nước, qua đó giảm bớt các yếu tố bất ổn trong nền kinh tế. Tuy nhiên, vay 9 nước ngoài lại có những tác động khác nguy hại đến nền kinh tế. Trong thời gian đầu, một dòng ngoại tệ lớn chảy vào trong nước sẽ làm giảm sức ép cân đối ngoại tệ.
Mặc dù sẽ có những tác động nhất định lên tỷ giá hối đoái theo hướng làm tăng giá đồng nội tệ và ảnh hưởng đến cán cân thương mại, song những tác động này chỉ trong ngắn hạn.