Chương I: Cơ sở lý luận của nghiên cứu quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên trong gia đình. Chương II: Quan niệm của cha mẹ về giá trị của VTN trong cuộc sống. Chương III: Quan điểm về hôn nhân Phần III: Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. NỘI DUNG CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ VÀ VỊ THÀNH NIÊN TRONG GIA ĐÌNH 1. Các khái niệm công cụ 1.1 Khái niệm “Gia đình” Là thiết chế cơ sở của xã hội, gia đình từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của các nhà tư tưởng, nhà nghiên cứu. Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” (1845), khi luận chứng cho những tiền đề, điều kiện cho sự tồn tại của con người, K.Engels đã cho rằng: “Hàng ngày, ngoài việc tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người còn tạo ra những cái khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình” (K.Engels Toàn tập, tập 3: 40). Theo từ điển Triết học Nhà xuất bản Tiến bộ Matscơva, gia đình là đơn vị xã hội (nhóm xã hội nhỏ), hình thức tổ chức quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân dựa trên hôn nhân và các quan hệ huyết thống, tức là quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em và những người thân thuộc cùng chung sống và có kinh tế chung.
Đặc trưng của sinh hoạt gia đình là quá trình vật chất (sinh vật, kinh tế) và tinh thần (đạo đức, pháp lý, tâm lý). Ở Việt Nam, quan niệm về gia đình cũng rất đa dạng và phong phú. Các nhà nghiên cứu khác nhau đưa ra những định nghĩa về gia đình khác nhau và “sự khác nhau này không chỉ do quan điểm, cách nhìn nhận của người định nghĩa mà còn do một thực tế là gia đình gắn chặt với những nhân tố văn hóa xã hội nhất định” (Mai Huy Bích, 2003). Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.
20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong luận văn này, khái niệm gia đình được hiểu là một nhóm người có quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống với nhau, thường chung sống và hợp tác kinh tế với nhau để thoả mãn những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống của họ về: sinh đẻ và nuôi dạy con cái, chăm sóc người già và người ốm. Dưới dạng phổ biến nhất hiện nay, gia đình gồm thành viên của hai giới nam và nữ có con đẻ hoặc con nuôi.2 Khái niệm “Vị thành niên” Khái niệm vị thành niên là một trong những khái niệm thường đem lại nhiều tranh luận cả về nội hàm lẫn ngôn từ trong tư duy khoa học. Tuỳ thuộc vào cách tiếp cận, chức năng, nhiệm vụ của mỗi chuyên ngành mà VTN lại được xem xét theo một cách thức riêng. Theo một số tác giả nước ngoài, tuổi vị thành niên (adolescence) thường chia thành hai giai đoạn: giai đoạn vị thành niên sớm (early adolescence) và giai đoạn vị thành niên muộn (late adolescence) (Jerry J.
Theo đó, giai đoạn vị thành niên sớm được nhận diện bởi sự bắt đầu và hoàn thiện của tuổi dậy thì và kết thúc khi mà đứa trẻ bước vào năm cuối trung học phổ thông ở khoảng độ tuổi 17. Giai đoạn vị thành niên muộn bắt đầu từ thời điểm này và kéo dài cho tới sinh nhật 18 tuổi, lứa tuổi được coi là trưởng thành về mặt luật pháp. Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, “vị” có nghĩa là “chưa”, “thành” là “trưởng thành”, “niên” là “tuổi”. Khái niệm “vị thành niên” dùng để chỉ người “chưa đến tuổi trưởng thành” (Nguyễn Lân, 2000: 2022).
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “vị thành niên” là khái niệm dùng để chỉ người chưa đủ tuổi để được pháp luật công nhận là công dân” (Nguyễn Như Ý chủ biên, 1995:1814). Do sự khác nhau giữa các nền văn hóa, phong tục tập quán, đặc điểm dân số… của từng quốc gia và các vùng lãnh thổ, việc qui định độ tuổi VTN cũng 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khác nhau. Tương tự như vậy đối với các tổ chức quốc tế, tùy thuộc vào mục đích của từng tổ chức, qui định về độ tuổi VTN cũng không giống nhau. Ví dụ, VTN, theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) được xác định trong độ tuổi từ 10 đến 19 tuổi.
Theo Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi. Ở nước ta, giới hạn độ tuổi VTN cũng có những qui định khác nhau theo những góc độ khác nhau. Về mặt pháp lý, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam (2004), chương 1, điều 1 quy định: Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. Điều 20 Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1996) qui định: Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên.
Như vậy, quan niệm về độ tuổi của trẻ em và VTN theo pháp luật Việt Nam có sự khác nhau. Trẻ em là người dưới 16 tuổi, còn người ở tuổi VTN là người dưới 18 tuổi. Như vậy, việc xác định giới hạn về độ tuổi của VTN ở mỗi quốc gia, dân tộc, của các tổ chức có sự khác nhau vì còn phụ thuộc vào thiết chế pháp luật, văn hoá, giáo dục cũng như những mục đích khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu này, đề tài tập trung nghiên cứu vị thành niên có độ tuổi từ 15 đến 17 tuổi.3 Quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên Ở đề tài này, quan hệ giữa cha mẹ và VTN trong gia đình được phân tích với hai nội dung bao gồm: Thứ nhất, quan niệm của cha mẹ về giá trị của VTN trong cuộc sống thể hiện ở: sự hi sinh của cha mẹ với con cái và sự vâng lời của con cái đối với cha mẹ, ưu tiên của cha mẹ với VTN nam và nữ trên một số lĩnh vực như tình cảm, phân công công việc trong gia đình và đầu tư học hành, và lo lắng của các bậc cha mẹ đối với VTN; Thứ hai, quan điểm của cha mẹ và VTN về hôn nhân bao gồm quyền quyết định trong hôn nhân và việc sống chung, riêng sau khi kết hôn.
22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu Đề tài tiếp cận vấn đề nghiên cứu trên cơ sở cách tiếp cận của các lý thuyết: lý thuyết xã hội hóa, thuyết tương tác biểu trưng, và thuyết xung đột. Cách tiếp cận theo thuyết xã hội hóa Theo cách tiếp cận của lý thuyết này, xã hội hoá là một quá trình diễn ra không ngừng nghỉ trong suốt cuộc đời con người. Với những đặc trưng mang tính sinh học của tuổi tác, mỗi giai đoạn của cuộc đời lại có những đặc điểm và đòi hỏi riêng của quá trình xã hội hoá.
Có nhiều cách phân chia các giai đoạn của quá trình xã hội hóa như phân chia theo tiêu chí về lao động của G.Andreeva: giai đoạn trước lao động, giai đoạn lao động và giai đoạn sau lao động (Nguyễn Quí Thanh, 2008). Nếu phân chia theo các giai đoạn sinh học của cuộc đời, xã hội hoá được chia ra làm ba giai đoạn như sau: Giai đoạn xã hội hoá ở trẻ em; giai đoạn xã hội hoá ở tuổi thanh niên và giai đoạn xã hội hoá ở người cao tuổi (Đặng Cảnh Khanh, 2006). Và theo cách phân chia này thì giai đoạn xã hội hoá ở tuổi thanh niên là giai đoạn đặc biệt trong quá trình xã hội hóa cá nhân. Ở giai đoạn này vừa một mặt hội nhập vào xã hội, một mặt khác vừa đóng góp cho sự vận động và phát triển của xã hội bằng cách sau khi thu nạp được những kiến thức và kinh nghiệm sống của giai đoạn trước, tính tới thời điểm này, con người bắt đầu có những sự lựa chọn tất yếu, tiếp thu hay gạt bỏ những giá trị nào nhằm gây dựng các mối quan hệ, tích lũy kinh nghiệm, nhằm đối diện với những thách thức trong việc xử lý các mối quan hệ xã hội.
Như vậy, ở giai đoạn này, ngoài những yếu tố, tác nhân tham gia vào quá trình xã hội hóa như môi trường bạn bè, trường học… gia đình vẫn giữ một vai trò không nhỏ, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của quá trình xã hội hóa giai đoạn thanh niên - tuổi VTN, mà trong đó, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái là yếu tố hết sức quan trọng trong định hướng, giáo dục VTN tiếp thu những chuẩn 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mực, giá trị tích cực tạo tiền đề thực hiện tốt quá trình xã hội hóa ở giai đoạn này. Cách tiếp cận theo thuyết tương tác biểu trưng Cách tiếp cận này chủ yếu áp dụng vào nghiên cứu quá trình xã hội hóa trẻ em. Theo cách tiếp cận này, con người ta phát triển quan niệm bản thân thông qua cái nhìn, quan điểm của người khác về họ, thông qua sự tương tác với những người đóng vai trò quan trọng trong đời sống cá nhân (như cha mẹ, thầy cô giáo, bạn cùng tuổi hay thậm chí các ca sĩ, ngôi sao điện ảnh, vận động viên v. Những người này tạo thành nhóm qui chiếu cho trẻ em.
Các em ngưỡng mộ họ và dùng họ làm mô hình hoặc điểm qui chiếu để chỉ dẫn hành vi của mình, để phát triển ý thức bản thân và kiến giải bối cảnh xã hội. Thuyết tương tác biểu trưng coi xã hội hóa là một quá trình theo đó trẻ em tham gia vào sự hình thành bản sắc của mình. Gần đây đã xuất hiện quan điểm coi đứa trẻ là một chủ thể hành động tích cực. Theo họ, đứa trẻ cũng tạo nên sự phát triển của bản thân nó.
Ví dụ, một bà mẹ chỉ có thể dạy con mình đọc nếu đứa trẻ hợp tác với mẹ và tích cực tham gia. Quan điểm này lấy cảm hứng từ thuyết tương tác biểu trưng. (Mai Huy Bích, 2003) Áp dụng vào lí giải: phân tích mối quan hệ giữa cha mẹ và VTN dựa trên việc phân tích quan điểm của cha mẹ và VTN trên cùng một câu hỏi, hoặc những câu hỏi liên quan tới suy nghĩ của VTN hay cha mẹ về những vấn đề có xu hướng ảnh hưởng tới mối quan hệ này ở hiện tại và trong tương lai.