Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 1.Các khái niệm công cụ *Khái niệm lối sống Đây là một khái niệm có nhiều cách định nghĩa khác nhau. Đôbơrianốp (1985: 213) cho rằng: lối sống là sinh hoạt cá nhân, chủ quan hoá của hệ thống những quan hệ xã hội, của toàn bộ tổng thể những điều kiện sống, thể hiện trong hoạt động của con người. Trong xã hội học, theo Turner (2006: 339): lối sống là các mô hình văn hóa và hành động đặc trưng, phân biệt người này với người khác. Lối sống là thuật ngữ dùng để chỉ cách thức mà cá nhân sống trong cộng đồng và xã hội.
Lối sống được đặc trưng bởi các mô hình hành vi có ý nghĩa với bản thân cá nhân cũng như những người khác trong những tình huống nhất định. Lối sống của cá nhân là tổng hợp các thói quen, cách thức giải quyết công việc cũng như các mô hình hành vi phổ biến trong cuộc sống hàng ngày. Lối sống phản ánh định hướng giá trị cũng như thái độ của cá nhân cho nên bản chất của cá nhân có thể được nhận biết qua lối sống của họ. Nói cách khác, có thể cói lối sống chính là yếu tố tạo ra những biểu trưng văn hóa phản ánh bản sắc cá nhân rõ nét.
*Khái niệm đời sống Đời sống là thuật ngữ dùng để chỉ sự diễn ra các hoạt động của con người trong thực tiễn sinh hoạt hàng ngày Đời sống của dân cư ở đây bao gồm: đời sống vật chất và đời sống tinh thần. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com *Khái niệm đô thị hóa Theo tác giả Trịnh Duy Luân trong cuốn “Xã hội học đô thị - NXB KHXH năm 2004, tr 70”: Đô thị hóa là khái niệm để chỉ một sự thay đổi, không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư trong xã hội mà còn chuyển thể nhiều kiểu mẫu của đời sống xã hội. Đô thị hoá là một quá trình tập trung dân cư đô thị. Đồng thời đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm, sản xuất phi nông nghiệp tăng.
Bộ mặt đô thị ngày càng hiện đại, không gian đô thị mở rộng. Đi liền với đó là sự biến đổi về đời sống xã hội của dân cư trong vùng đô thị hóa. Đời sống của người dân (đời sống vật chất và đời sống tinh thần) không ngừng được cải thiện và nâng cao, cơ cấu ngành nghề có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ sản xuất thuần nông sang sản xuất phi nông nghiệp. Và hệ luỵ của quá trình đô thị hóa cũng nảy sinh từ đây *Khái niệm về gia đình Trong xã hội, từ xưa đến nay, gia đình vẫn luôn là thiết chế cơ bản nhất và gắn liền với đời sống của mỗi con nguời.
Mỗi cá nhân không thể tồn tại đơn lẻ mà phải gắn liền với gia đình. Tùy theo cách nhìn nhận từ các ngành khoa học mà có những định nghĩa về gia đình khác nhau, nhưng nhìn chung, nói đến gia đình là nói đến một xã hội thu nhỏ với nhiều mối quan hệ tồn tại bên trong nó. Theo Từ điển xã hội học của Nguyễn Khắc Viện- NXB thế giới, Hà Nội, 1994: Gia đình được xem như một nhóm người gắn bó với nhau bằng sợi dây liên hệ hôn nhân, huyết thống hay nhận con nuôi. Ở đây có sự tác động qua lại giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái, giữa anh chị em với họ hàng xa hơn.
Có thể thấy, “gia đình” là một trong những phạm trù xuất hiện sớm nhất trong lịch sử nhân loại. Từ “gia đình” có lẽ được sử dụng nhiều nhất trong ngôn ngữ hàng ngày và trong nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội cũng như 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong nhiều nghiên cứu về gia đình, song hiếm khi nó có một định nghĩa rõ ràng. Trong thực tế, không có một loại hình gia đình đồng nhất cũng như không có một hình thức gia đình giống nhau ở mọi nơi và ở mọi thời điểm. Gia đình không chỉ khác nhau giữa các quốc gia và nền văn hóa mà thậm chí còn không giống nhau từ gia đình này đến gia đình khác ngay trong một nền văn hóa (Lê Ngọc Văn, 2011, tr.
Cho dù gia đình được được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, song tựu chung lại, các định nghĩa gia đình thường được xác định theo một trong hai cách tiếp cận, đó là cách tiếp cận vi mô hoặc vĩ mô. Theo cách tiếp cận vĩ mô, gia đình được định nghĩa với tư cách là một thiết chế xã hội, một đơn vị cơ sở của xã hội, thực hiện những chức năng xã hội nhất định, trước hết là chức năng tái sản xuất ra con người. Trong cuốn Từ điển xã hội học của G. Trommsdorff (Nhà xuất bản Thế giới, 2002), gia đình là một nhóm thuộc loại đặc biệt vì nó biểu hiện một cấu trúc vai trò nhất định (bố, mẹ, con gái, con trai, cháu, em…), với nó thì sự tách biệt về giới tính và thế hệ là tiêu chí của cơ cấu gia đình (một hay đa thế hệ; nam/nữ) và qua đó chuyển hóa một quan hệ hợp tác và đoàn kết rất đặc biệt mà ở tất cả các xã hội đều tổ chức theo nghi lễ sự thành lập của nó.
Ngoài ra, xã hội cũng trao cho nhóm đặc biệt này những chức năng rất đặc biệt (G. Như vậy, gia đình là một nhóm có cấu trúc và đảm nhận những chức năng nhất định trong xã hội. Theo cách tiếp cận vi mô, gia đình được định nghĩa với tư cách là một nhóm xã hội với những tiêu chí cụ thể để nhận diện nó. Nguyễn Đình Tấn, Lê Tiêu La (1999) đã đưa ra định nghĩa tương đối ngắn gọn: “Gia đình là một nhóm xã hội nhỏ đặc thù, có đặc trưng cơ bản là được thiết lập trên cơ sở của hôn nhân mà từ đó hình thành các quan hệ huyết thống ruột thịt giữa các thành viên” (Nguyễn Đình Tấn, Lê Tiêu La, 1999, dẫn theo Lê Ngọc Văn, 2011…).
Tuy nhiên, định nghĩa này tương đối hẹp vì chỉ hướng vào khía cạnh 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sinh học của gia đình. Tổ chức UNESCO của Liên hiệp quốc năm 1994 đưa ra định nghĩa: “Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng sống chung và có ngân sách chung” (dẫn theo Nguyễn Linh Khiếu, 2003:33). Cục Điều tra dân số Mỹ cung cấp khái niệm gia đình là “hai hoặc hơn hai người, bao gồm chủ hộ, có quan hệ với nhau bởi huyết thống, hôn nhân hoặc quan hệ với nhau bởi huyết thống, hôn nhân hoặc quan hệ con nuôi (nghĩa dưỡng) và những người sống cùng với nhau như một hộ gia đình” (http://www. Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.
Như vậy, có thể rút ra một số tiêu chí xác định gia đình: là một nhóm người (có từ hai người trở lên), có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống và có ngân sách chung. Luận văn này sử dụng định nghĩa gia đình: “Gia đình là một nhóm người, có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nghĩa dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có ngân sách chung”(Nguồn: Lê Ngọc Văn (2011), Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội). Trong đó, luận văn chú ý đến các khía cạnh của gia đình như: mối quan hệ huyết thống hoặc nghĩa dưỡng, cùng chung sống. Gia đình đang thực hiện các chức năng cơ bản sau: Chức năng sinh đẻ, tái sản xuất ra con người Chức năng kinh tế.
Chức năng xã hội hóa Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý, tình cảm. *Thiết chế gia đình truyền thống 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thiết chế gia đình truyền thống được xây dựng dựa trên một hệ thống chuẩn mực quy định hết sức chặt chẽ và có tính ràng buộc về vị trí, vai trò của từng thành viên trong gia đình, và về cơ bản nó mang tính chất cưỡng chế, được tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một xã hội nông nghiệp ít biến đổi. Những con người sinh ra và lớn lên đã được thiết chế gia đình cung cấp cho những vai trò có sẵn. Các cá nhân không bao giờ tự hỏi tại sao họ phải hành động theo những chuẩn mực đó mà cần phải học hỏi để thực hiện tốt vai trò của mình, đáp ứng mong đợi của mọi người.
Trong gia đình truyền thống, nhìn chung các cá nhân hầu như tuân thủ các chuẩn mực sẵn có, ít khi hành động đi ngược lại thiết chế. Trong một xã hội chậm biến đổi, khép kín trong lũy tre làng, con người hầu như không có tiếp xúc và giao lưu văn hóa với xã hội bên ngoài, hành động theo chuẩn mực, được số đông chấp nhận bao giờ cũng mang lại cho cá nhân cảm giác yên tâm, an toàn và yên ổn. Trong xã hội nông nghiệp truyền thống, gia đình hầu như là nơi duy nhất bảo đảm cuộc sống cho mỗi con người từ lúc sinh ra cho đến khi về già; nơi tiến hành lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất, nơi tình cảm được thỏa mãn. Gia đình truyền thống là một cộng đồng sinh hoạt, cộng đống sản xuất, cộng đồng tình cảm và cộng đồng văn hóa.
Mỗi cá nhân không thể sống không có gia đình hoặc sống ngoài gia đình. Xa cha mẹ, anh em, họ hàng, quê hương làng xóm là tổn thất khó có thể bù đắp được trong quan niệm của người Việt xưa. Ý thức trách nhiệm, tính thần cộng đồng, sự hy sinh cho gia đình là tình cảm nảy sinh ở mỗi cá nhân đối với gia đình. Tinh thần đó chi phối các mối quan hệ trong gia đình truyền thống, trong đó cá nhân hoàn toàn phụ thuộc vào gia đình.
Sự bền vững của thiết chế gia đình tạo nên truyền thống văn hóa và sự ổn định của gia đình, song nó cũng chứa đựng nhiều yếu tố lạc hậu, bảo thủ, cản trở việc tiếp nhận những giá trị mới. Trong xã hội nông nghiệp truyền thống nếu hôn nhân là nơi bắt đầu của gia đình thì cha mẹ là người quyết định hôn nhân của con cái và con cái tuân 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com theo sự sắp đạt hôn nhân của cha mẹ.