CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 1. Vị trí địa lý Cô Tô là huyện đảo nằm trong khu vực vịnh Bắc Bộ của tỉnh Quảng Ninh, thuộc vòng cung đảo gần bờ biển Đông Bắc Việt Nam, cách thành phố Hạ Long khoảng 150km và cách đất liền khoảng 80km.
Huyện bao gồm hơn 30 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có đảo Cô Tô và đảo Thanh Lân là lớn nhất [20]. - Đảo Cô Tô có dạng gần hình vòng cung, lưng quay về phía Đông Bắc, dài khoảng 7km theo phương Tây Bắc - Đông Nam, rộng 2,5-4km. Diện tích phần nổi lúc thủy triều cao khoảng 14 km2, lúc triều thấp khoảng 22 km2, trung bình khoảng 18 km2. Trên đảo có ngọn hải đăng, thuyền bè cách xa từ 40-60km có thể nhìn thấy được.
- Đảo Thanh Lân dài khoảng 10km theo phương Đông Bắc - Tây Nam, chiều rộng nơi rộng nhất khoảng 2km. Diện tích khoảng 17 km2. Vị trí khu vực cụm đảo Cô Tô – Thanh Lân 1. Đặc điểm khí hậu Theo Báo cáo năm 2014 của Ủy ban Nhân dân huyện Cô Tô [4], huyện đảo Cô Tô được đặc trưng bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh mang đậm tính chất khí hậu hải dương với nhiệt độ trung bình năm 22 - 230C, lượng mưa trung bình 1700 - 1900 mm/năm.
Khí hậu được phân làm 2 mùa rõ rệt: nóng và ẩm vào mùa hè (tháng 5 - 10), khô và lạnh vào mùa đông (tháng 11 năm trước đến tháng 4 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. - Chế độ nắng: khá dồi dào trung bình đạt từ 1700-1820 giờ/năm và có sự phân hóa theo mùa. Từ tháng 4 đến 12, số giờ nắng trung bình trên 100 giờ/tháng, cao nhất vào tháng 7. Tháng 1- 3 số giờ nắng dưới 100 giờ/năm.
- Chế độ nhiệt: ổn định với nhiệt độ trung bình nhiều năm là 22 - 230C phân hóa thành 2 mùa rõ rệt: mùa hè (tháng 5 - 10), mùa đông (tháng 11 - 4). - Chế độ mưa ẩm: Lượng mưa trung bình năm dao động từ 1700 - 1900 mm/năm và có sự phân hóa theo mùa: + Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 10, mùa ít mưa: từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau. + Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình năm đạt 83 - 84%. Đạt cực tiểu vào nửa đầu mùa đông và cực đại vào tháng 3 và tháng 4.
- Chế độ gió: thường thịnh hành 2 loại gió chính: + Gió mùa Đông Nam: xuất hiện vào mùa hè, + Gió mùa Đông Bắc: xuất hiện vào mùa khô (tháng 10 - 4 năm sau). - Bão: Hàng năm, huyện Cô Tô thường chịu ảnh hưởng trực tiếp của 5 - 7 cơn bão với sức gió từ cấp 8 - 11. Bão thường xuất hiện vào tháng 6 đến tháng 9 kèm theo gió mạnh và mưa lớn gây thiệt hại lớn cho người dân. Đặc điểm thủy văn, hải văn Theo Báo cáo năm 2014 của Ủy ban Nhân dân huyện Cô Tô [4], đặc điểm thủy, hải văn của huyện đảo Cô Tô như sau: a) Đặc điểm thủy văn Hệ thống sông suối trên đảo ít và ngắn, dốc.
Toàn huyện có 13 con suối có chiều dài trên 1 km, được phân bố chủ yếu ở đảo Thanh Lân (9 suối), đảo Cô Tô lớn (có 3 suối) và đảo Cô Tô con (1 suối). Chế độ thủy văn có sự phân hóa theo mùa: Mùa mưa lượng nước khá dồi dào, tuy nhiên vào mùa khô nước suối cạn, nguồn nước sinh hoạt của cư dân trên đảo chủ yếu dựa vào mạch nước ngầm và các hồ chứa trên đảo. Toàn huyện có 21 hồ, đập để chứa nước cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất cho người dân. Do vậy, các hồ chứa có vai trò vô cùng quan trọng đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân và du khách tham quan lưu trú trên đảo.
b) Đặc điểm hải văn + Chế độ sóng: Huyện đảo Cô Tô là khu vực có chế độ hải văn điển hình cho vùng vịnh Bắc Bộ. Chế độ hải văn khu vực quần đảo Cô Tô phụ thuộc vào hoàn lưu của hai loại gió mùa (gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam). + Chế độ thuỷ triều: chịu ảnh hưởng chung của chế độ nhật triều đều và thuần nhất của Vịnh Bắc Bộ. Biên độ triều vùng này cao nhất Việt Nam từ 3 - 4 m.
Hướng của thuỷ triều cũng thay đổi vào các mùa trong năm. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tại vùng nước xung quanh đảo Cô Tô, sóng thịnh hành về mùa đông là hướng đông bắc và đông - đông bắc; với độ cao trung bình từ 0,7 đến 1,3m, độ cao cực đại đạt 2,3-2,8 m. Mùa hè, từ tháng 6 đến tháng 8, hướng sóng thịnh hành là nam và nam - đông nam, độ cao trung bình từ 0,7 - 0,9m, độ cao cực đại có thể tới 3,5-4,5m, cá biệt, sóng trong bão có thể tới 5-6m. Trong thời gian chuyển tiếp, phổ biến là hướng sóng đông bắc và đông nam.
Đặc điểm địa hình a) Địa hình trên đảo - Đảo Cô Tô có dạng đồi núi thấp và bãi bồi. Diện tích đồi núi chiếm trên 50%, còn lại là đồng bằng và bãi cát. Từ Tây Bắc xuống Đông Nam có các đỉnh núi cao trên 100m, đỉnh núi cao nhất 166m, trên núi cây cối rậm rạp, rừng tự nhiên và rừng trồng bao phủ kín các đỉnh núi và sườn núi. Các thung lũng được khai phá để trồng lúa và hoa màu, xây dựng nhà cửa thành một số cụm dân cư tập trung.
Diện tích đất nông nghiệp khoảng 350ha trong đó diện tích cấy lúa khoảng 220ha. Xung quanh đảo là những bãi cát và đá ngầm, chỉ một số nơi tàu thuyền mới có thể đi lại được. - Đảo Cô Tô Con cũng được cấu thành bằng một dãy núi thấp chạy suốt chiều dài từ Đông Bắc xuống Tây Nam với độ cao cực đại là 106,7 m. Ngoài ra, độ cao trên 100m còn gặp cả trên những đảo rất nhỏ, như Hòn Núi Nhọn (148,6 m), Hòn Bồ Cát (138,5m).
Tất cả những đảo còn lại đều chỉ ứng với tiêu chí địa hình đồi, với độ cao từ vài chục mét đến dưới 100m. Địa hình núi có sườn dốc phần nhiều trên 200, có chỗ tới 50-600. Ở những nơi núi lan ra sát biển và đang bị biển phá mòn, rất phổ biến những vách dốc đứng. - Đảo Thanh Lân có dạng địa hình núi, các đỉnh núi tạo thành dải núi kéo dài theo phương ĐB-TN.
Phía Tây Bắc có các đỉnh cao trên 100m, ở giữa có đỉnh cao nhất 210m và giảm dần về phía Tây Nam với đỉnh cao 155m. Sườn núi dốc 15-30o phủ bởi cây cối. Thực vật trên đảo rậm rạp, tất cả đều thuộc dạng núi đất. Các thung lũng trên đảo đã được khai phá thành ruộng lúa hoặc trồng màu.
Trên sườn đồi lân cận, các khu dân cư trồng nhiều loại cây ăn quả như nhãn, cam. Xung quanh bờ đảo có nhiều vách đá, không cao, hầu hết là cát kết dạng quarzit nhiều màu sắc, một số nơi gần cửa các thung lũng là các bãi cát, tàu thuyền loại lớn và trung bình không thể tiếp cận đảo mà phải trung chuyển bằng các thuyền nhỏ. Trên đảo từng có đường ô tô, chủ yếu dành cho xe xích chở khí tài trong thời gian chiến tranh biên giới. Nhiều đoạn rất dốc, rất ít sử dụng nên bị các trận mưa to tàn phá, cây cối mọc lan tràn rất khó đi lại.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên đảo có một số nhánh suối bắt nguồn từ dải núi ở trung tâm. Do diện tích đảo nhỏ, lưu vực các suối thường không lớn. Lưu lượng đo được từ 1,4 l/s đến 2,4 l/s. b) Địa hình đáy biển Nhìn chung, địa hình đáy biển vùng biển đảo Cô Tô khá phức tạp và dốc.
Phía Nam và Đông Nam đảo có xu hướng dốc hơn khu vực phía Bắc và Tây Bắc. Tuy nhiên khu vực phía Bắc và Tây Bắc, địa hình phức tạp với các trũng ngầm và cồn ngầm. Lớp phủ thực vật Cô Tô là một trong những khu vực có đa dạng sinh học cao của tỉnh Quảng Ninh. Theo Quyết định số 3541/QĐ-UBND ngày 26/12/2013 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh, tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp của huyện Cô Tô là 3.379ha, chiếm hơn 71%; trong đó đất có rừng là 2.767ha, độ che phủ của rừng là 58,2%.
Tài nguyên rừng của huyện đảo Cô Tô được đánh giá theo diện tích và giá trị của thảm thực vật. Năm 2013, huyện Cô Tô có 2.090,57 ha rừng, chiếm 44% tổng diện tích tự nhiên huyện (giảm so với năm 2005 là 2.328,45 ha rừng, chiếm 49,2% diện tích tự nhiên), trong đó rừng tự nhiên là 1080 ha, rừng trồng 1008 ha. So với năm 2005 thì diện tích tự nhiên hiện nay có xu hướng tăng lên và diện tích rừng trồng giảm xuống. Rừng trên đảo đa số là rừng phục hồi, có nhiều loại cây gỗ thuộc họ trâm, họ bứa, họ thân dầu, họ đậu, long lão, lim, giao, bồ hòn, thông, keo.
Ngoài cây thân gỗ còn có nhiều loại cây dược liệu quý như: sâm sắn, chè khe, chè vằng,…Một số loài cây có thể khai thác, phát triển làm cây cảnh rất đẹp và có giá trị kinh tế cao: Tùng La hán, cây Cứt chuột (tên địa phương cây Thèn đen), nguyệt quế, si, sộp,… [4]. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Đặc điểm dân cư và lao động Huyện đảo Cô Tô có 3 đơn vị hành chính: Thị trấn Cô Tô, xã Thanh Lân và xã Đồng Tiến. Mật độ dân cư trên địa bàn huyện phân bố không đều, bình quân khoảng 109 người/km2, tập trung cao ở thị trấn Cô Tô 329 người/ km2, trong khi ở xã Đồng Tiến là 102 người / km2 và ở xã Thanh Lân chỉ là 46 người / km2.
Từ khi huyện đảo Cô Tô được thành lập (1994) dân số huyện đảo tăng lên không ngừng. Theo số liệu thống kê của UBND huyện Cô Tô năm 2012, trên địa bàn huyện có 1491 hộ dân, tổng dân số là 5856 người. Dân cư thuộc 03 dân tộc (Kinh, Sán Dìu, Hoa), có nguồn gốc từ 06 tỉnh thành trong cả nước ra xây dựng kinh tế mới: Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương. Năm 2012, tổng dân số huyện Cô Tô là 5856 người.
Số lao động là 3.371 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người chiếm 60% tổng dân số, trong đó lao động nông nghiệp là 1.500 người, còn lại là lao động phi nông nghiệp. Dân cư thường sống tập trung ở những nơi trung tâm xã, thị trấn (tập trung nhiều nhất ở thị trấn Cô Tô).