Đặt vấn đề Miền núi phía Bắc là vùng rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế, quốc phòng an ninh và cân bằng hệ sinh thái cho Việt Nam. Tuy nhiên đây là một trong những vùng nghèo nhất ở nước ta. Có nhiều nguyên nhân gây ra tỷ lệ nghèo cao trong vùng như sự ngăn cách về địa lý, sự bất bình đẳng về giới, sự hạn chế trong sự tiếp cận các dịch vụ như khuyến nông, phát triển giáo dục, y tế cũng như tiếp cận các cơ hội thị trường để phát triển kinh tế Nhưng những tác động bất lợi của hiện tượng thời tiết khí hậu và biến đổi khí hậu trong những năm gần đây được xác định là một nguyên nhân cản trở sự phát triển kinh tế xã hội của người dân trong vùng. Đặc điểm của vùng đồi núi này là có hệ sinh thái không đồng nhất và dễ bị thay đổi, nạn phá rừng nghiệm trọng và suy giảm tài nguyên đất.
Người dân đang phải sống trong một môi trường đang ngày một biến đổi nhanh chóng gây ra bởi những thay đổi đáng kể của khí hậu trong thời gian gần đây. Các yếu tố vật lý của môi trường khu vực miền núi phía bắc chẳng hạn như: khí hậu, đất, nước, địa hình và các yếu tố sinh học, thảm thực vật và động vật, đang bị ảnh hưởng bởi những thay đổi bất thường như sự tăng lên hoặc giảm nhiệt độ, những trận bão bất thường, và những trận mưa lớn chưa từng có (CARE international in Viet Nam, 2014). Chính vì vậy sản phẩm nông lâm nghiệp của họ thường gặp phải nhiều rủi ro do những biến đổi bất lợi của thời tiết khí hậu. Bắc Kạn là một trong những tỉnh nghèo nhất nằm ở trung tâm miền núi phía bắc Việt Nam đã và đang được tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam và các tổ chức phi chính phủ triển khai nhiều dự án phát triển liên quan đến xóa đói giảm nghèo, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và giảm thiểu tác động xấu của biến đổi khí hậu.
Trong 5 năm gần đây Bắc Kạn là một trong những tỉnh n 2 bị thiệt hại lớn trong sản xuất nông nghiệp do sự xuất hiện của thời hiện tượng tiết khí hậu cực đoan (CARE international in Viet Nam, 2014). Cộng đồng người dân ở Bắc Kạn nói riêng và miền núi phía bắc Việt Nam nói chung có vốn kiến thức truyền thống và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp giúp họ linh hoạt hơn với những thay đổi khắc nghiệt trong môi trường sống. Nhiều cộng đồng bản địa là dân tộc thiểu số ở Bắc Kạn đã có rất nhiều kinh nghiệm trong canh tác nông nghiệp bền vững và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Những kiến thức và các kỹ thuật bản địa này đã được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong từng cộng đồng dân tộc thiểu số.
Xuất phát từ thực tế nói trên và nguyện vọng của bản thân cùng với sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo PGS.TS Đỗ Thị Lan em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa ở xã Như Cố huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn” 1. Mục đích nghiên cứu - Giảm thiểu các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp của đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Bắc Kạn. - Xác định các biểu hiện của biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp. - Xây dựng các mô hình cây trồng thích ứng với các HTTTCĐ và biến động của thời tiết khí hậu dựa vào kiến thức bản địa của các cộng đồng dân tộc thiểu số trong vùng nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu - Xác định các biểu hiện của biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp. n 3 - Tài liệu hóa các kiến thức và kỹ thuật bản địa của cộng đồng trong dự đoán, ứng phó và thích ứng với các hiện tượng thời tiết cực đoan (HTTTCĐ) và biến động của thời tiết khí hậu trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. - Phân tích sự hỗ trợ của chính quyền các cấp nhằm thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp ở địa bàn nghiên cứu thông qua việc phân tích các chính sách liên quan. - Theo dõi khả năng thích ứng của các mô hình.
Yêu cầu của đề tài - Số liệu thu thập phải trung thực, khách quan, chính xác. - Xây dựng các mô hình có tính khả thi và phù hợp với điều kiện hoàn cảnh địa phương. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học + Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác nghiên cứu sau này. + Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu.
+ Nâng cao khả năng tự học tập, nghiên cứu và tìm tài liệu tham khảo - Ý nghĩa trong thực tiễn + Xây dựng các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp. + Giảm thiểu những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới môi trường. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Biến đổi khí hậu 2. Khái niệm Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người. Theo quan điểm của Tổ chức khí tượng thế giới, BĐKH là sự vận động bên trong của hệ thống khí hậu, do những thay đổi kết cấu hệ thống hoặc trong mối quan hệ tương tác giữa các thành phần của nó do các ngoại lưu hoặc do các hoạt động của con người 2. Nguyên nhân Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác.
Nhằm hạn chế sự biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6. - CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển. CO2 cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép. - CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than.
n 5 - N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp. - HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC- 23 là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22. - PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm. - SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê.
Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu - Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung. - Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất. - Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển. - Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người.
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác. - Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển. Thích ứng với biến đổi khí hậu 2. Khái niệm Khí hậu đã và đang biến đổi và có những tác động tiềm tàng, bất lợi đến phát triển, vì thế sự thích ứng trở nên ngày càng quan trọng.
Thích ứng là một khái niệm rất rộng và khi áp dụng vào lĩnh vực biến đổi khí hậu nó được dùng trong rất nhiều trường hợp. Đối với IPCC (1996) cho rằng: Khả năng thích ứng đề cập đến mức độ điều chỉnh có thể trong hành động, xử lý, cấu trúc của hệ thống đối với những biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay thực sự đã và đang xảy ra của khí hậu. Sự n 6 thích ứng có thể là tự phát hay được chuẩn bị trước. Như vậy, ở đây vấn đề thích ứng được nói đến chính là mức độ điều chỉnh với biến đổi cả về tính tự phát hay chuẩn bị trước.
Còn với nghiên cứu của Burton (1998) lại cho rằng: Thích ứng với khí hậu là một quá trình mà con người làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khỏe, đời sống và sử dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại. Ở đây thích ứng là làm thế nào giảm nhẹ tác động biến đổi khí hậu, tận dụng những thuận lợi nếu có thể. Theo Thomas (2007), lại cho rằng: thích ứng có nghĩa là điều chỉnh hoặc thụ động, hoặc phản ứng tích cực, hoặc có phòng bị trước, được đưa ra với ý nghĩa là giảm thiểu và cải thiện những hậu quả có hại của BĐKH. Như vậy, thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại.
Thích ứng với khí hậu hiện nay không đồng nghĩa với thích nghi BĐKH trong tương lai. Các hình thức thích ứng với biến đổi khí hậu Có rất nhiều phương pháp thích nghi có khả năng được thực hiện trong việc đối phó với biến đổi khí hậu. Bản báo cáo đánh giá thứ 2 của nhóm công tác IPCC II đề cập và miêu tả 228 phương pháp thích nghi khác nhau. Vì thế sẽ có ích nếu phân loại các phương pháp thích nghi sử dụng một cấu trúc tổng quát.