MỞ ĐẦU Việt Nam với điều kiện thiên nhiên nhiệt đới rất thuận lợi cho việc hình thành và phát triển các loài thực vật, điển hình như các loại cây có chứa tinh dầu đang được khẳng định là dồi dào và độc đáo. Trong đó, giống Citrus họ Rutaceae có tiềm năng và nhu cầu thị trường về tinh dầu ngày càng lớn như vỏ vỏ bưởi da xanh (Citrus Maxima Burm. Merr), bưởi năm roi (Citrus grandis L.) ở khu vực phía Nam và bưởi diễn (Citrus grandis L.), bưởi Đoan Hùng (Citrus grandis L.) ở khu vực phía Bắc. Trong các nghiên cứu cho thấy quá trình trích ly có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu suất thu hồi tinh dầu, các thông số quy trình tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình chiết xuất, tinh dầu di chuyển bên trong tế bào thực vật ra môi trường tách chiết.
Quy mô chiết xuất ở phòng thí nghiệm chưa đủ đánh giá những tác động trong quá trình này, kéo theo sự sai lệch trong kết quả chiết tách tinh dầu ở quy mô lớn. Từ đó, mô hình động học trích ly tinh dầu được đánh giá nhằm đưa ra một dữ liệu cụ thể về các mối quan hệ giữ các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất và chất lượng tinh dầu trong quá trình trích ly. Mặt khác, hệ số quan trọng trong sự tác động giữa các nhân tố được nêu ra giải quyết bài toán lựa chọn thông số công nghệ cho quy trình sản xuất quy mô công nghiệp. Điều này được đánh giá khá hữu ích về vấn đề kinh tế và thương mại.
Ngoài ra, thành phần hóa học, hoạt tính kháng oxy hóa của tinh dầu thu được cũng cần được đánh giá để khai thác tiềm năng của các loại tinh dầu, có thể ứng dụng vào các sản phẩm thực phẩm, đa dạng hơn trong các ngành mỹ phẩm, dược phẩm và các sản phẩm tẩy rửa gia dụng… nâng cao giá trị kinh tế của cây có múi. Với những dữ liệu đã nêu, việc triển khai đề tài ‘‘Nghiên cứu xây dựng mô hình động học của quá trình trích ly tinh dầu từ nguồn nguyên liệu vỏ bưởi tại Việt Nam’’ là cần thiết. Đề tài tìm ra mô hình động học phù 1 hợp để mô tả cơ chế chiết xuất của quá trình dựa trên các dữ liệu thực nghiệm và đánh giá mức ảnh hưởng của yếu tố chiết xuất đến cơ chế quá trình. Mục đích nghiên cứu của đề tài là xây dựng mô hình động học thích hợp cho việc chiết xuất tinh dầu từ vỏ bưởi da xanh (Citrus Maxima Burm.
Merr), bưởi năm roi (Citrus grandis L.) và bưởi diễn (Citrus grandis L.), bưởi Đoan Hùng (Citrus grandis L.) đồng thời đánh giá chất lượng, hoạt tính sinh học tinh dầu thu được. Nghiên cứu được tiến hành nhằm mục đích khảo sát hiệu suất trích ly của tinh dầu và hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất tinh dầu cho hiệu suất thu hồi và chất lượng tinh dầu cao. Bên cạnh đó, sử dụng kỹ thuật phân tích số liệu để áp dụng các mô hình động học vào dữ liệu thực nghiệm. Động học quá trình và tầm quan trọng của mô hình không chỉ đối với sự hiểu biết cơ bản mà còn cho thấy khả năng tối ưu hóa, điều khiển và thiết kế các quá trình chiết xuất từ quy mô phòng thí nghiệm đến quy mô công nghiệp.
Các mô hình động học cùng hiệu suất và thành phần tinh dầu rất quan trọng đối với các quá trình chiết xuất từ góc độ công nghệ và cả kinh tế. Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể xem là cơ sở khoa học ban đầu của việc xây dựng quy trình chiết tinh dầu, mô hình động học của tinh dầu họ Citrus quy mô pilot, quy mô công nghiệp cũng như cung cấp những dẫn chứng khoa học về thành phần hóa học đặc trưng của tinh dầu. GIỚI THIỆU VỀ CÂY BƯỞI 1. Nguồn gốc Bưởi có tên khoa học: Citrus Maxima Burm.
Merr, Citrus Grandis (L.maxima Bưởi có nguồn gốc từ Nam Á và Malaysia, mọc tự nhiên theo bờ sông Fiji (tên một đảo quốc ở Thái Bình Dương) và Friendly. Bưởi đã được đưa vào Trung Quốc khoảng 100 năm trước công nguyên. Bưởi được trong nhiều ở miền năm Trung Quốc (tỉnh Quảng Đông, tỉnh Quảng Tây và tỉnh Phúc Kiến). Đặc biệt bưởi còn được trồng trên những bờ sông ở miền nam Thái Lan, ở Đài Loan, khắp nơi miền nam Nhật Bản, Nam Ấn Độ, bán đảo Malaysia, Indonesia, New Guinea và Tahiti.
Người ta cho rằng những hạt giống đầu tiên được thuyền trưởng Shaddock mang đến Châu Mỹ vào cuối thế kỉ 17. Vì vậy bưởi còn được gọi là Shaddock [1]. Bưởi có 2 loài: Bưởi (Citrus Grandis) và Bưởi chùm (Citrus Paradisi) 3 Bưởi chùm hay còn gọi là bưởi đắng, là loài lai giữa bưởi Shaddock và cam, được trồng phổ biến ở Mỹ và các nước vùng Địa Trung Hải, không có hoặc có rất ít ở các nước vùng Châu Á [2]. Bưởi chùm trái nhỏ (đường kính khoảng 10-15cm) [3], đặt gọn trong long bàn tay, có hình cầu tròn, da trơn láng giống như quả cam, vỏ khi chin có màu vàng hoặc hồng, có mùi đặc trưng của Bưởi.
Khi cắt ngang sẽ thấy ruột bưởi rất đặc, màu đỏ hồng, các múi bưởi dính liền nhau, giống hệt múi cam, khó tách, rất ít hạt hoạch không có hạt (khác với bưởi ở Việt Nam các múi tách rời, tếp bưởi mọng nước, xốp), phần vỏ trắng bên ngoài rất mỏng như phần trắng của vỏ cam, vị từ rất chua đến ngọt nhạt và lúc nào cũng chát [4]. Bưởi chùm được trồng nhiều ở Mỹ, Braxxil, Argentina, Mexico, người phương tây dùng để ép lấy nước uống hay ăn tươi. Bưởi chùm cung cấp nguồn dồi dào vitamin C, chất xơ pectine. Bưởi chùm có sắc hồng hay đỏ do có chứa chất chống oxy hóa có lợi là lycopepe.
Các nghiên cứu cho thấy Bưởi chùm có thể hạ thấp lượng cholesterol và trong hạt Bưởi có chứa một lượng thấp các chất chống oxy hóa [5]. Ở nước ta và các vùng Đông Nam Á chủ yếu trồng các giống Bưởi thuộc loài Grandis. Đây là loài rất đa dạng về giống do sự lai tạo giữa chúng với các loài khác trong chi Citrus. Sự khác nhau giữa các giống không chỉ ở đặc điểm hình thái, kích thước quả mà còn ở cả chất lượng và màu sắc thịt quả.
Ở miền Bắc có Bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh), Bưỡi Đoan Hùng (Phú Thọ), Bưởi đỏ Mê Linh,. Trong số đó nổi tiếng nhất là Bưởi Phúc Trạch, Bưỡi Đoan Hùng, tiếp đến là bưởi Diễn. Các loại bưởi này được nhiều người ưa thích và được đánh giá cao trên thị trường nhiều nước. Ở miền Nam có các loại bưởi: bưởi Cổ Cò, bưởi Thanh Kiều, bưởi Da Xanh, bưởi Năm Roi,.
Các giống Bưởi này phần lớn quả có hình quả lê, cây ở độ 18-25 năm có chiều cao 6-10m. Trung bình trên cây có 200-300 quả tùy 4 vào mật độ trồng, độ phì của đất và kỹ thuật chăm sóc, khối lượng quả trung bình là 0. Các loại bưởi này có giá trị kinh tế và năng suất cao. Thành phần hóa học Trong phần ăn được (các tép bưởi) có chứa: Nước (89%), protein (0,5%), lipid (0,4%), đường (9,3%), vitamin B1 (0,07 mg%), vitamin B2 (0,01 mg%) và vitamin C (44 mg%).
Vỏ có chứa tinh dầu (0,15%), pectin các hợp chất flavonoid (naringin). Hạt có chứa pectin Hoa có chứa tinh dầu (0,10%) Tinh dầu vỏ quả bưởi là chất lỏng màu vàng nhạt, mùi thơm, có các hằng số: d30: 0,8417, D30: + 103,620, n D30: 1,4702. Thành phần chính là limonen (90%), terpenalcol (2,5%), sesquiterpenalcol (3%) 1. Công dụng của Bưởi Bưởi là loại trái cây có rất nhiều chất dinh dưỡng, cung cấp nhiều dưỡng chất cho cơ thể chúng ta.
Trong thành phần dinh dưỡng của trái Bưởi có nhiều loại vitamin và khoáng chất mà cơ thể rất cần. Chẳng hạn như vitamin C, trong một trái bưởi trung bình có tới 39 milligram. Bưởi chứa nhiều vitamin C và potassium, là nguồn cung cấp chất vôi (calcium), folate, sắt, và chất khoáng khác (Viện dinh dưỡng học Việt Nam). Bưởi đỏ hay bưởi hồng chứa nhiều beta caroten là tiền chất của vitamin A.
Ngoài ra, Bưởi còn chứa nhiều chất xơ, ít caloris, nhiều hợp chất bioflavonoids và một vài chất khác có khả năng ngăn ngừa bệnh ung thư và tim mạch [7]. 5 Bưởi giúp ăn ngon, kích thích sự tiêu hóa vì tăng cường sự tiết mật và tiết dịch vị. Dùng Bưởi vào buổi sáng lúc bụng đói có tác dụng lợi tiểu và tẩy chất độc, giúp lọc máu, thải những chất cặn bẩn và độc tố ở thận và gan ra ngoài. Một số người bị bệnh thấp khớp, viêm khớp, hoại huyết, và kinh phong lành nhờ ăn Bưởi thường xuyên.
Làm giảm cholesterol: trong bưởi có pectin, chất xơ hòa tan có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu, giảm chất béo thâm nhập vào cơ thể. Theo nghiên cứu trong những người có hàm lượng cholesterol trong máu cao, việc ăn thường xuyên 15g pectin trong bưởi trong thời gian 4 tháng giúp giảm cholesterol trong máu trung bình 8%, trong trường hợp đặc biệt có thể giảm tới 20% [8]. Chống cao huyết áp, giảm tai biến tim mạch: Hesperidin và naringin là 2 chất flavonoid giúp bảo vệ tính đàn hồi của mạch máu, ngừa xơ cứng động mạch, gián tiếp chống cao huyết áp và tai biến mạch máu não. Acid galacturonique trong Bưởi có tác động đặc biệt lên cholesterol xấu, một trong những yếu tố tạo nên mảng xơ vữa thành mạch làm giảm sự đàn hồi của động mạch.
Chính tác động này có tác dụng săn đuổi và loại bỏ sự tích tụ cholesterol đồng thời làm sạch các mạch máu [9]. Phòng chống ung thư: Nhiều chất tìm thấy trong Bưởi có tác dụng chống oxy hóa mạnh như lycopene, limonoid và naringin. Chúng góp phần xoa dịu các triệu chứng cảm lạnh và các tai biến tim mạch cũng như ung thư. Các nghiên cứu khoa học cho thấy limonoid làm gia tăng hàng lượng của một số enzyme có khả năng làm giảm độc tính và hỗ trợ việc loại bỏ các tác nhân gây ung thư [10].
Lá Bưởi: Dùng để trị các chứng nhức đầu do phong, viêm khớp. Lá Bưởi chín dùng để xoa bóp, nấu nước xong hoặc ngân chữa chứng sưng khớp, bong gân, và chấn thương. 6 Múi Bưởi: Có tác dụng chống viêm, ức chế quá trình ngưng tụ tiểu cầu và cải thiện độ bền vùng thành mạch. Cùi Bưởi: Vị ngọt đắng, tính ấm, tác động vào tỳ, thận, bàng quan, công dụng hóa đàm, tiêu thực, hạ khí và làm khoan khoái lồng ngực.
Cùi bưởi được dùng để trị các bệnh sau: chứng ho hen ở người già, đau bụng do lạnh, chậm tiêu, sán khí, phụ nữ mang thai non nhiều. Hoa Bưởi: Có tác dụng hành khí, tiêu đờm, giảm đau, dùng để chữa các chứng đau dạ dày, đau tức ngực.