ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, sự xuất hiện và lây lan của các vi sinh vật kháng kháng sinh đã đặt ra những thách thức lớn trong điều trị bệnh lý nhiễm khuẩn. Cùng với đó, thế kỉ XXI đã chứng kiến sự suy giảm đáng kể trong tốc độ nghiên cứu và phát triển của các thuốc hóa dược kháng vi sinh vật mới do chi phí đắt đỏ trong quá trình tổng hợp và nghiên cứu. Để giải quyết vấn đề này, một trong các xu hướng nghiên cứu hiện nay là tìm kiếm các hợp chất tự nhiên có tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm như tinh dầu để hiệp đồng tác dụng với các chất kháng sinh. Việt Nam là một trong những nước có nguồn tài nguyên thực vật đa dạng phong phú, đặc biệt là các cây có tinh dầu.
Những nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính kháng vi sinh vật của tinh dầu cũng như khả năng khai thác nguồn dược liệu tự nhiên này đang là mối quan tâm của nhiều nhà khoa học. là chi lớn nhất trong họ Hồ tiêu với số lượng khoảng 300 loài phân bố khắp vùng nhiệt đới châu Á và hơn 40 loài trong số đó đã được ghi nhận ở Việt Nam. Trầu không (Piper betle L.) là loài phổ biến nhất trong chi và được người ta hái lá để ăn trầu cũng như dùng chữa ung nhọt, mẩn ngứa, viêm mạch bạch huyết [1]. Các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam và trên thế giới đã chứng minh trầu không có một số tác dụng sinh học nổi bật như tác dụng kháng vi sinh vật, diệt bọ gậy, chống oxy hóa và ức chế men tyrosinase [2],[3].
Tuy nhiên các nghiên cứu chỉ đánh giá hoạt tính nói chung hoặc sàng lọc tác dụng ức chế trên một đích cụ thể, bên cạnh đó còn nhiều loài Piper L. khác chưa được nghiên cứu. Trong những năm gần đây, với sự phát triển của khoa học máy tính, các nghiên cứu sàng lọc tìm kiếm các hợp chất tự nhiên dựa trên các phương pháp hỗ trợ nhờ máy tính hay còn gọi là phương pháp in silico đã trở thành một hướng đi mới đầy tiềm năng. Một số phương pháp như mô phỏng protein docking hay mô hình định lượng tương quan cấu trúc - tác dụng sinh học đã được sử dụng hiệu quả trong sàng lọc tác dụng kháng khuẩn và kháng nấm của các thành phần hóa học có trong tinh dầu của nhiều loài thực vật.
Phát triển các thuốc mới dựa trên 1 các phương pháp in silico sẽ có nhiều ưu thế, tìm ra các thuốc mới tốt hơn và ít độc tính hơn đồng thời rút ngắn thời gian và tiết kiệm chi phí nghiên cứu. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu ứng dụng phương pháp in silico trong đánh giá hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm của tinh dầu của các loài thuộc chi Piper L. Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn và kháng nấm in vitro và in silico của tinh dầu một số loài thuộc chi Piper L., họ Piperaceae” được thực hiện với 3 mục tiêu: 1. Phân tích thành phần hóa học của tinh dầu các loài Piper betle f.
densum, Piper betle L. thuộc chi Piper L. Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm in vitro của các mẫu tinh dầu thu được. Nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm in silico của một số thành phần hóa học chính trong các mẫu tinh dầu.
tại Việt Nam 1. Vị trí và phân loại Vị trí phân loại của chi Piper L. theo hệ thống phân loại thực vật như sau: Giới thực vật (Plantae) Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) Bộ Hồ tiêu (Piperales) Họ Hồ tiêu (Piperaceae) Theo hai tác giả Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Kim Đào, họ Hồ tiêu phân bố ở Việt Nam có 5 chi gồm: Peperomia, Zippelis, Circaeocarpus, Piper, Lepianthes, trong đó, chi Piper L. Đặc điểm thực vật Dạng sống: cây bụi với những nhánh thẳng đứng hoặc trải rộng, cây leo với rễ mọc ở đốt, bám vào thân cây khác; đôi khi có dạng thân thảo bò trên mặt đất hoặc sống bì sinh; hiếm khi có dạng cây gỗ nhỏ và thường có mùi [5], [6].
Lá: đơn, mép nguyên; mọc đối hoặc mọc cách; có thể có hoặc không có lá kèm (rụng sớm để lại sẹo ở mấu khá rõ). Lá rất khác nhau về hình dạng và kích thước giữa các loài. Lá có các dạng: hình mác, hình trứng, hình tim, hình elip. Trên cùng một cây có thể có nhiều hình dạng lá khác nhau với đặc điểm lá già thường to và nổi bật hơn so với những lá còn lại.
Phiến lá có thể mỏng hoặc dày; nhẵn bóng, nhăn nheo hoặc thô ráp; có thể có lông. Lông che chở màu nâu hoặc trắng; có thể đơn bào hoặc đa bào; bao phủ bề mặt lá và/hoặc toàn thân cây. Gốc lá cân đối hoặc lệch; dạng hình tròn hoặc hình tim. Cuống lá ngắn hoặc dài khoảng vài centimet.
Gân lá thường tạo thành các cặp 6 xuất phát từ một số điểm như: gốc lá, điểm sát gốc lá, điểm giữa hoặc điểm phía trên của gân giữa lá. Một số lá có hệ gân thứ cấp chạy dọc theo gân giữa, có dạng đường cong từ gốc đến đỉnh của lá, có hình chân vịt hoặc có một phần xẻ lông chim [6]. 3 Hoa: cụm hoa dạng bông, mọc đối diện với lá hoặc ở nách lá; hiếm khi mọc ở đỉnh cành và cũng hiếm khi tạo thành cụm gồm nhiều bông mọc ở nách lá. Cụm hoa có dạng vươn thẳng hoặc uốn cong nhẹ và có thể bị rủ xuống khi chín.
Hoa trần, thường đơn tính (đa số khác gốc, ít khi cùng gốc) hoặc lưỡng tính, không có cuống. Hoa có thể có màu hồng, màu hạt dẻ, màu xanh xám, màu vàng xanh, màu trắng đục… Lá bắc nhỏ; mọc đối diện với hoa, đôi khi dính với trục cụm hoa; hình khiên, hình tam giác hoặc hình tròn; thường nhẵn hoặc có lông mịn. Bộ nhị 2-6, chỉ nhị ngắn; bao phấn 2, 2-4 thùy. Bộ nhụy có bầu nhụy rời hoặc đôi khi ôm lấy trục, 1 ô, 1 noãn; núm nhụy 2-5 [6], [7].
Quả: loại quả hạch, có hoặc không có cuống; dạng hình trứng, hình cầu, hình trứng ngược hoặc có mặt cắt hình tam giác, hiếm khi hình bầu dục; khi chín thường có màu đỏ hoặc vàng. Quả thường nhẵn hoặc đôi khi có lông tơ; mỗi quả có 1 hạt. Hạt gần hình cầu, vỏ hạt mỏng; phôi nhỏ, ngoại nhũ dạng bột và cứng [6],[8]. Đặc điểm phân bố chi Piper L.
tại Việt Nam Nước ta có 46 loài thuộc chi Piper L., trong đó, có hai loài phân bố rộng khắp cả nước gồm: P. (Lá lốt) và một loài được trồng phổ biến ở các tỉnh phía Nam là P. Tây Nguyên là vùng có nhiều loài thuộc chi Piper L. phân bố nhất với trên 15 loài.
Một số vùng khác cũng thấy có sự xuất hiện của khá nhiều loài thuộc chi này là Vườn Quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình) và Vườn quốc gia Ba Vì (Hà Nội). Các loài thuộc chi Piper L. ở nước ta thường mọc trong rừng ẩm ở độ cao từ 150 – 1500 m, thường gặp ở độ cao 600 – 1000 m, cá biệt có loài gặp ở độ cao trên 1700 m. Một số ít loài phân bố ở gần khu vực dân cư sinh sống, ven rừng, ven đường [4], [5].
Danh mục các loài thuộc chi Piper L. ở Việt Nam Qua thu thập tài liệu đã liệt kê được 46 loài thuộc chi Piper L. phân bố ở Việt Nam và danh lục của các loài này được giới thiệu ở bảng 1. Trong số 46 4 loài được liệt kê ở bảng 1.1, có 38 loài được liệt kê trong cả 2 tài liệu [5] và [4], có 3 loài (số thứ tự là 1, 24 và 27) chỉ được liệt kê ở tài liệu [5] và 5 loài (số thứ tự là 5, 11, 19, 21 và 39) chỉ được liệt kê ở tài liệu [4].
Danh lục các loài thuộc chi Piper L. ở Việt Nam Tên Tên TT Tên khoa học TT Tên khoa học Việt Nam Việt Nam P. leptostachuym Tiêu gié 1 P. acre Blume Tiêu gắt 24 Wall.
mảnh Tiêu gié Lá lốt, Tất 2 P. trắng bạt Tiêu thượng 3 P. baccatum Blume Tiêu phì quả 27 P. Tiêu to Tiêu 5 P.
Trầu không 30 DC.boehmeriaefolium 8 Tiêu lá gai 31 P. Hàm ếch Tiêu biến 9 P. rừng thể Tiêu thân 10 P. Hồ tiêu ngắn P.
pendulispicum Tiêu gié 11 Tiêu chó 34 Blume C. thòng 5 Tên Tên TT Tên khoa học TT Tên khoa học Việt Nam Việt Nam P. 12 Tiêu cambot 35 Tiêu penang DC. Tiêu pierre DC.
mập Tiêu châu P. 14 đốc, Trầu 37 Tiêu lá láng DC. Tiêu thất 38 Giả hạt tiêu DC. densum Blume Tiêu dày 39 lông, Trầu (Benth.) Maxim lông Tiêu P.
có lông Tiêu gié P. gymnostachyum Tiêu dội, 18 trần, Trầu 41 P. Trầu cảnh không rừng Tiêu hải P. hainanense 19 nam, Trầu 42 P.
hải nam Tiêu P. rufescentibaccum Tiêu trái 20 P. 21 44 Tiêu sài gòn Miq. Tiêu trên đá khasia P.
Tiêu lào 46 Trầu giả Roxb. Thành phần hóa học các loài thuộc chi Piper L. ở Việt Nam Trong số các loài thuộc chi Piper L. ở Việt Nam, kết quả tra cứu trên cơ sở dữ liệu Web of Science cho thấy, một số loài đã được nghiên cứu nhiều bởi các nhóm nghiên cứu trong và ngoài nước như: P.
Các loài còn lại mới được nghiên 6 cứu rất ít hoặc chưa được nghiên cứu. Thành phần hóa học đáng chú ý trong các loài kể trên bao gồm: tinh dầu; ngoài ra còn có các hợp chất alcaloid, alkanpolyenylbenzen, flavonoid và các lignan. Thành phần hóa học tinh dầu các loài thuộc chi Piper L. ở Việt Nam Tinh dầu là nhóm hợp chất điển hình của chi Piper L., tạo ra mùi thơm đặc trưng của các cây trong chi.
Một số cấu tử có mặt khá phổ biến trong thành phần tinh dầu của nhiều loài thuộc chi Piper L. như: α-pinen, sabinen, terpinen-4-ol,… Một số khung cấu tạo điển hình của các cấu tử tinh dầu phân lập được từ chi Piper L. được thể hiện ở hình 1. Một số khung cấu tạo chính của thành phần tinh dầu phân lập được từ chi Piper L.
Trong đó: (A): 1 - isopropyl - 4 - methylcyclohexan; (B): decahydro - 1, 4, 6 - trimethyl - naphthalen; (C): decahydro - 1,4,7 - trimethylazulen Cấu tạo khung A ở hình trên đại diện cho hầu hết cấu tử tinh dầu nhóm monoterpen. Ngược lại, cấu tạo của cấu tử tinh dầu nhóm sesquiterpen đa dạng hơn với hai khung cấu tạo điển hình là khung B hoặc C. Đa số cấu tử tinh dầu của chi Piper L. đều có chứa từ 1 đến 2 vòng 6 cạnh no hoặc không no.
Ở vòng 6 cạnh không no thường có từ 1 đến 2 nối đôi, hiếm khi có 3 nối đôi (như: p-cymen, thymol).