MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong xã hội hiện đại đời sống của con ngƣời ngày càng đƣợc nâng cao, nhu cầu vật chất ngày càng đƣợc đáp ứng đầy đủ. Bên cạnh đó, họ cũng phải đối mặt với mọi khó khăn của cuộc sống luôn luôn thay đổi. Đây cũng là nguyên nhân gây nên nhiều vấn đề về sức khỏe tinh thần.
Một trong những rối loạn có liên quan đến căn nguyên tâm lý thì rối loạn lo âu rất thƣờng gặp. Rối loạn lo âu không phải bệnh mới, nhƣng ở thời đại ngày nay nó tiến triển mạnh mẽ với số lƣợng bệnh nhân không ngừng tăng lên. Theo nghiên cứu của Rieger và cộng sự (1990) có khoảng 15% dân số đã trải nghiệm các triệu chứng mang đặc trƣng của rối loạn lo âu và 2,3% - 8,1% có rối loạn lo âu hiện hành. Số liệu gần đây của hầu hết quốc gia trên thế giới cũng cho thấy, rối loạn lo âu đang ngày càng có chiều hƣớng gia tăng và lên tới 20-25% dân số.
Trầm cảm và lo âu hiện hữu trên toàn thế giới. Đó là một nghiên cứu toàn diện mới nhất về lo âu và trầm cảm, do các nhà nghiên cứu thuộc Trƣờng Đại học Queensland thực hiện. Trƣớc kia, có giả thiết cho rằng chỉ ngƣời phƣơng Tây mới bị lo âu, trầm cảm. Tuy nhiên những khảo sát về lo âu và trầm cảm lâm sàng đƣợc thực hiện ở 91 quốc gia (gồm hơn 480.000 ngƣời) cho thấy rối loạn lo âu đƣợc ghi nhận ở các nƣớc phƣơng Tây nhiều hơn so với các nƣớc khác.
Lo âu tác động tới khoảng 10% dân số ở Bắc Mỹ, Tây Âu và Úc/New Zealand so với khoảng 8% ở Trung Đông và 6% ở châu Á. Nghiên cứu cũng cho thấy lo âu gặp ở nữ nhiều hơn nam.[6] Ngƣời ta thấy rằng, rối loạn lo âu quá mức thƣờng xảy ra nhất ở trẻ em tuổi tiểu học và những em ở giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên. Theo thống kê của nhiều nƣớc trong nhiều thập kỉ qua tỉ lệ rối loạn lo âu trẻ em là 5,7 – 17,7% [11]. Bề ngoài, những đứa trẻ này có biểu hiện bồn chồn hoặc căng thẳng do thiếu khả năng thƣ giãn.
Stress tuổi học đƣờng ở trẻ vị thành niên do lo âu quá mức đang là một vấn đề thời sự đáng đƣợc quan tâm ở nhiều nƣớc hiện nay, trong đó có Việt nam. Tuy nhiên, nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam hiện chƣa nhiều. Nguy hiểm hơn nếu tình trạng lo âu ngày càng tăng cao và khó giải quyết hơn khi biểu hiện thành 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Theo nghiên cứu của Trần Tuấn và cộng sự (2003) rối loạn tâm lý ở trẻ em ngày càng tăng và có tỷ lệ khá cao chiếm gần 20%.
Rối loạn lo âu tồn tại ở mọi lứa tuổi đặc biệt với các em học sinh thời kỳ tuổi vị thành niên. Ở lứa tuổi trung học cơ sở, các em đang bƣớc vào giai đoạn phát triển tâm sinh lý đặc biệt với nhiều biến đổi cơ thể. Việc học tập, các mối quan hệ gia đình, bạn bè, những biến đổi cơ thể ở tuổi dậy thì gây nên không ít ảnh hƣởng tới đời sống tinh thần của các em. Vì các lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu về lo âu học đƣờng ở học sinh trung học cơ sở.
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng lo âu học đƣờng và cách ứng phó của các em khi gặp vấn đề này, từ đó có những biện pháp hỗ trợ thích hợp giúp các em vƣợt qua lo âu, nâng cao chất lƣợng cuộc sống tinh thần cho các em. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu biểu hiện lo âu học đƣờng và cách ứng phó với lo âu của học sinh THCS nhằm tìm ra những biện pháp phòng ngừa và can thiệp rối loạn lo âu phù hợp với lứa tuổi này. Đối tƣợng nghiên cứu Lo âu và cách ứng phó với lo âu của học sinh trung học cơ sở. Nhiệm vụ nghiên cứu - Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu.
- Nghiên cứu thực tiễn về biểu hiện lo âu học đƣờng của học sinh trung học cơ sở và cách ứng phó của các em. - Chỉ ra một số yếu tố ảnh hƣởng đến lo âu học đƣờng, tìm hiểu cách ứng phó của học sinh THCS. - Đề ra một số biện pháp phòng ngữa và can thiệp rối loạn lo âu học đƣờng ở học sinh THCS. Giới hạn phạm vi nghiên cứu - Về nội dung nghiên cứu: Đề tài chọn nghiên cứu lo âu liên quan đến các yếu tố học đƣờng của học sinh THCS.
2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Về địa bàn nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu trên học sinh trung học sơ sở, giáo viên và cha mẹ của các em thuộc hai trƣờng: Trƣờng trung học cơ sở Thịnh Quang (Hà Nội) và trung học cơ sở Khánh Lợi (Ninh Bình). Giả thuyết nghiên cứu Có một tỷ lệ không nhỏ học sinh có lo âu học đƣờng. Các yếu tố ảnh hƣởng đến lo âu ở học sinh THCS rất đa dạng, trong đó yếu tố ảnh hƣởng mạnh nhất là áp lực học tập. Phần lớn học sinh THCS có biểu hiện lo âu thƣờng có cách ứng phó theo chiều hƣớng tiêu cực.
Phƣơng pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu - Phƣơng pháp trắc nghiệm - Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi - Phƣơng pháp phỏng vấn sâu - Phƣơng pháp nghiên cứu trƣờng hợp - Phƣơng pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học Các phƣơng pháp này sẽ đƣợc trình bày cụ thể ở chƣơng II. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu về lo âu 1. Tình hình nghiên cứu lo âu trên thế giới Rối loạn lo âu đƣợc biết từ rất sớm từ thời Hy Lạp cổ đại – thế kỉ thứ IV trƣớc công nguyên.
Hypocrat mô tả với một dạng bệnh thƣờng gặp mà biểu hiện của nó là: cảm giác co thắt và ngột ngạt khó thở. Rối loạn lo âu đƣợc cho là những cuộc đấu tranh của tâm hồn - quan niệm này tồn tại hàng chục thế kỉ sau đó. Trong suốt thời gian này lo âu đƣợc nói nhiều, nhƣng chủ yếu trong lĩnh vực tƣ tƣởng, đạo đức, văn học. Nó đƣợc xem nhƣ dục vọng của tâm hồn, suy nghĩ của ma quỷ.
Ngƣời ta không chú ý đến việc nghiên cứu bản chất của các cảm xúc mà chỉ tìm cách chế ngự nó. Lo âu không đƣợc xem là bệnh lý cần đƣợc nghiên cứu. Rối loạn lo âu tên tiếng anh là anxiety disorder, đƣợc dùng nhiều trong ngành tâm thần học và y học. Thuật ngữ “angest” đƣợc Kerkgard ngƣời Đan Mạch sử dụng để chỉ trạng thái lo âu vào năm 1844.
[13] Lo âu là một trong các vấn đề về sức khỏe tâm thần đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm vào những năm cuối thế kỉ XIX. Vào năm 1895, Freud cho rằng trạng thái “loạn thần kinh lo âu” bao gồm sự chờ đợi lo âu cấp tính. Ông đã đề xuất sử dụng thuật ngữ “nhiễu tâm lo âu” trên cơ sở phân tích các hiện tƣợng lâm sàng rối loạn ám ảnh. Trong thời gian dài từ thế kỉ XX cho tới nay khái niệm này đƣợc nhiều ngƣời chấp nhận và sử dụng.
Freud cho rằng, chứng bệnh tâm căn này là do xung đột nội tâm vô thức. Đây có lẽ là một sự kiện nghiên cứu có sức thuyết phục trong lịch sử nghiên cứu về lo âu và để lại ảnh hƣởng trong thời gian dài của thế kỉ XX. Tuy không có bằng chứng khoa học xác đáng nhƣng nó làm sáng tỏ thêm về bản chất bên trong của lo âu và thể hiện một cách nhìn mới về lâm sàng.46] Trong tác phẩm “Loạn thần kinh chức năng” Sullivan đã mô tả nếu ngƣời mẹ mang thai mà có những lo lắng căng thẳng sẽ ảnh hƣởng đến con. Từ giai đoạn thứ hai của thai nhi (tháng thứ 6 trở đi) thì nó sẽ ảnh hƣởng nặng nề vì lúc đó thai nhi đã 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có cảm giác.
Điều này còn ảnh hƣởng tới đời sống học đƣờng của đứa trẻ về sau này nếu không đƣợc trợ giúp. Phillips, nhiều nghiên cứu cũng cho thấy đời sống tình cảm của đứa trẻ với ngƣời thân đặc biệt là ngƣời mẹ sẽ ảnh hƣởng đến các hoạt động học đƣờng cũng nhƣ đời sống học đƣờng của đứa trẻ sau này. Rối loạn lo âu trong bảng phân loại quốc tế những vấn đề sức khỏe tinh thần (ICD) lần thứ 8, thứ 9 và thứ 10 đã có những thay đổi nhƣ sau: + Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 8 (ICD 8, 1986) tổ chức y tế thế giới cho rằng, lo âu đƣợc xếp vào lo âu tâm căn (tức là bệnh lo âu do tâm lý) + Theo bảng phân loại bệnh lần thứ 9 (ICD 9, 1978) mặc dù đã có nhiều tiến bộ và thay đổi nhƣng về cơ bản các trạng thái lo âu vẫn đƣợc xếp vào các rối loạn tâm căn. Nhƣng khác ở chỗ là các tác giả bắt đầu theo hƣớng mô tả triệu chứng thuần túy về các mức độ khác nhau của rối loạn lo âu.
+ Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD 10, 1992) đã ghi nhận sự kết hợp quan trọng của các rối loạn này với các nguyên nhân tâm lý. Rối loạn lo âu đƣợc xếp vào các rối loạn tâm căn có liên quan đến stress và các rối loạn dạng cơ thể. Khoảng những năm 80 của thế kỉ XX, các nhà tâm lý học Nga xếp các trạng thái lo âu sợ hãi ám ảnh của trẻ em vào hội chứng loạn thần kinh chức năng. Trong bảng chuẩn và rối loạn tâm lý của Hiệp hội tâm thần Mỹ chỉnh sửa lần thứ III (Diagnostic and Statistical Manual for Mental Disorders – DSM III, 1983) thì khái niệm rối loạn lo âu chính thức đƣợc sử dụng.
Rối loạn lo âu đƣợc phân chia thành: rối loạn lo âu chia li, rối loạn lo âu quá mức, rối loạn lo âu né tránh. Năm 1994, hội tâm thần học Mỹ chỉnh sửa và đƣa ra phiên bản IV bảng phân loại DSM-IV. Theo đó, mỗi loại rối loạn tâm thần (Mental Disorder) đƣợc khái niệm hóa nhƣ là một nhóm những triệu chứng bất thƣờng về tâm lí (hoặc những mẫu hành vi ứng xử bất thƣờng) có ý nghĩa về mặt lâm sàng. Chúng xảy ra ở một cá nhân và liên quan đến stress tiêu cực hoặc liên quan đến việc mất năng lực của cá nhân (tức là làm hỏng một hay một số chức năng duy trì cuộc sống cân bằng của cá nhân), hoặc làm tăng đáng kể sự nguy hiểm cho cá nhân qua việc phải chịu đựng 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.