Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ BẢO TÀNG TỈNH, THÀNH PHỐ Ở VIỆT NAM 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các tài liệu, nghiên cứu về hoạt động giáo dục của bảo tàng Giáo dục bảo tàng là nội dung thu hút sự quan tâm, nghiên cứu cũng như bàn thảo của giới khoa học với nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu, sách chuyên khảo… Tác giả Claudio Zaki Dib (Đại học São Paulo, Brazil) trong bài viết công bố năm 1988 “Formal, non-formal and informal education: concepts/applicability” (“Giáo dục chính quy, không chính quy và không chính thức: khái niệm/khả năng ứng dụng”) đã tập trung phân loại các HĐGD chính quy, không chính quy và không chính thức, cho thấy các đặc điểm và mối quan hệ của chúng ở cấp độ khái niệm cũng như hoạt động thực tế. Theo tác giả, giáo dục bảo tàng thuộc giáo dục không chính thức, đặc trưng nổi bật của hình thức này là “không đòi hỏi sự kiểm soát đối với các hoạt động đã thực hiện”, “không áp đặt nghĩa vụ” đối với đối tượng hướng tới - công chúng, có khả năng chuyển thành giáo dục không chính quy tùy thuộc vào mức độ “hệ thống hóa” và “tính tổ chức” [104, tr.
Giáo dục cũng là hoạt động thể hiện rõ vị trí và sức ảnh hưởng, khía cạnh xã hội của bảo tàng. Do đó, các nghiên cứu về giáo dục bảo tàng ghi nhận những thay đổi rõ nét gắn liền với sự phát triển của thiết chế này, đặc biệt là giai đoạn cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI. Năm 1999, với công trình The Educational Role of the Museum (Vai trò giáo dục của bảo tàng) tác giả Eilean Hooper - Greenhill (Đại học Leicester - Vương quốc Anh) biên tập một số bài viết của các nhà nghiên cứu về giáo dục bảo tàng) theo các vấn đề (1) Lý thuyết giao tiếp; (2) Học tập trong bảo tàng; (3) Phát triển trưng bày hiệu quả; (4) Xem xét khán giả của bảo tàng; qua đó khẳng định bảo tàng có vai trò giáo dục xã hội [114]. Bà đặc biệt coi trọng mối quan hệ, sự tiếp xúc giữa bảo tàng và công chúng, thông qua các hình thức chuyển tải tích cực đến các đối tượng khách tham quan, giúp họ có thêm vốn kiến thức bổ ích trong cuộc sống.
12 Trong chương trình Chăm sóc, bảo tồn và quản lý các di sản của Tiểu ban quốc tế đào tạo nhân sự thuộc Hội đồng Bảo tàng quốc tế (International Council of Museums - ICOM), nhiều tài liệu chuyên ngành đã được biên soạn, xuất bản vào những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, như Museum basics (Cơ sở bảo tàng) của Timothy Ambrose, Crispin Paine (Vương quốc Anh), The handbook for museums (Cẩm nang bảo tàng) của Gary Edson, David Dean (Hoa Kỳ). Timothy Ambrose, Crispin Paine khẳng định “bảo tàng là để phục vụ con người”, cần quan tâm đến HĐGD trực tiếp cũng như gián tiếp (thực hiện thông qua hoạt động giải trí). Tham quan bảo tàng là hình thức được chú trọng, giáo dục bảo tàng được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động dịch vụ, chăm sóc khách tham quan, mục đích là mang lại sự thoải mái, hài lòng cho đối tượng sử dụng trong quá trình nhận thức tại bảo tàng [1]. Gary Edson và David Dean có sự quan tâm nhiều hơn đến vấn đề thuyết minh (giải thích/diễn giải/biện giải) hiện vật để có thể truyền đạt, nâng cao nhận thức về văn hóa trong bảo tàng.
Giá trị của một bảo tàng được nhấn mạnh ở khả năng phục vụ cho đời sống tinh thần và cảm xúc của công chúng [47]. Năm 2004, tác giả Prabhas Kumar Singh (Ấn Độ) trong bài viết “Museum and Education” (“Bảo tàng và Giáo dục”) đã so sánh giáo dục bảo tàng với giáo dục trường học, thấy được “bảo tàng là một nguồn kích thích trí tuệ và giải trí”, có mối quan hệ chặt chẽ với trường học với nhiều hình thức đa dạng như tham quan có hướng dẫn, phòng khám phá, các khóa học - lớp học, bài giảng minh họa, ấn phẩm phục vụ giáo dục [124, tr. Năm 2007, chuyên gia của Israel - Haim Eshach cũng cho rằng các bảo tàng, trung tâm khoa học có ưu thế, “có thể đóng góp rất nhiều vào sự hiểu biết khoa học”, người học trở nên tích cực và có trách nhiệm hơn. Đánh giá cao ý nghĩa của giải trí trong giáo dục không chính thức, ông đã dẫn chứng và thể hiện sự đồng thuận cao với các quan điểm về giáo dục ngoài nhà trường, mà tại đó “phương thức giải trí thành công hơn phương diện giáo dục” [Dẫn theo 105, tr.
Bắt nguồn từ một tài liệu hướng dẫn thực hành cho các bảo tàng ở Irag, sau đó mở rộng phạm vi cho các bảo tàng sử dụng tiếng Ả rập, bản tiếng Anh Running a Museum: A Practical Handbook (Vận hành một bảo tàng: Sổ tay hướng dẫn thực hành) đã được 13 ICOM xuất bản năm 2004 để có thể sử dụng rộng rãi hơn. Cuốn sách cung cấp cái nhìn tổng quan về bảo tàng hiện đại, với mục đích đáp ứng nhu cầu và mong muốn của công chúng trong thế kỷ XXI. Các tác giả của 12 chương sách đã đưa ra các bài học thực tiễn từ kinh nghiệm hoạt động bảo tàng và tri thức chuyên môn của mình, đại diện cho một xã hội đa văn hóa mà chúng ta đang sống. Trong đó, bảo tàng là một thành tố không chính thức của giáo dục, đem tới những cơ hội phong phú trong học tập, thưởng thức cũng như thảo luận.
Trên cơ sở khẳng định ý nghĩa của sưu tập, di sản đối với giáo dục bảo tàng, chuyên gia Cornelia Bruninghaus-Knubel (Bảo tàng Wilhem Lehmbruck - Đức) trình bày các vấn đề và không gian cũng như việc tổ chức các hoạt động tham quan - đàm thoại, xưởng thực tế, trò chơi, dịch vụ giáo dục, sự kiện và hoạt động giải trí… Ngoài ra, tài liệu còn đề cập đến các vấn đề chăm sóc, tiếp thị để tăng cường khả năng thu hút và có được sự hài lòng từ phía khách tham quan khi đến với bảo tàng [116]. “Bảo tàng kiến tạo” là vấn đề tâm huyết mà George E. Ông xem xét giáo dục bảo tàng một cách toàn diện, hệ thống từ định nghĩa, lịch sử phát triển gắn liền với loại bảo tàng công cộng, sứ mệnh, lý thuyết, kỹ năng thực hành… Theo Hein, kiến tạo là cách tiếp cận phù hợp với tính chất tự nguyện, không chính thức, đa dạng về đối tượng của giáo dục bảo tàng, có sự liên quan chặt chẽ với việc diễn giải các DSVH. Kiến tạo được hiểu với ý nghĩa cấp tiến, khách tham quan kết nối cái đã biết với cái mới, bổ sung, xây dựng kiến thức trên cơ sở “trải nghiệm có ý nghĩa” tại bảo tàng [110].E (Liên bang Nga) phân tích và khẳng định tính đa dạng của đối tượng công chúng mà bảo tàng phục vụ.
Theo tác giả, “hoạt động văn hóa - giáo dục” bao hàm tất cả khía cạnh giao tiếp của bảo tàng với công chúng, được xem xét dưới góc độ của sư phạm bảo tàng (nối tiếp giữa Bảo tàng học, Sư phạm học và Tâm lý học). Bảo tàng trở thành trung tâm khoa học, văn hóa và giải trí, trong đó hoạt động văn hóa - giáo dục bao gồm hình thức truyền thống (tham quan, bài giảng), hình thức mới (câu lạc bộ, ngày hội bảo tàng…) được chú ý “nhập gộp với các DSVH phi vật 14 thể”, đáp ứng đòi hỏi của công chúng trong xã hội hiện đại [56]. Vương Hoằng Quân (Trung Quốc) cũng quan tâm nghiên cứu công chúng, sự cấu thành khách tham quan bảo tàng, bởi theo ông tôn chỉ chung của bảo tàng thế giới là “phục vụ xã hội và sự phát triển của xã hội” [72, tr. Giáo dục bảo tàng không còn là sự chuyển giao một chiều từ hướng dẫn/thuyết minh viên sang khách tham quan, mà là sự trao đổi hai chiều, tác động ảnh hưởng lẫn nhau.
Năm 2003, ICOM đã quyết định chọn chủ đề “Bảo tàng và DSVH phi vật thể” cho các hoạt động kỷ niệm ngày Quốc tế bảo tàng 18/5 (International Museum Day - IMD). Thời điểm này như “tín hiệu xanh”, đánh dấu sự quan tâm, quan điểm nở rộ của giới nghiên cứu đối với DSVH phi vật thể trong bảo tàng nói chung, HĐGD của bảo tàng nói riêng. Năm 2004, trong bài viết “Museum and Intangble Heritage” (DSVH phi vật thể và bảo tàng), chuyên gia Amareswar Galla (Chủ tịch ICOM vùng châu Á - Thái Bình Dương) khẳng định di sản phi vật thể có thể trở thành phương tiện cho giáo dục và hoạt động văn hóa trên cơ sở khai thác bối cảnh của các sưu tập, gắn liền với các vấn đề đương đại [108]. Thông qua hai trường hợp Bảo tàng Quốc gia Singapore, Bảo tàng và Trung tâm tự nhiên SIIDA Sami - Phần Lan, chuyên gia về bảo tàng và di sản thế giới của UNESCO - Helka Ketonen trình bày quan điểm và phương pháp tích hợp DSVH phi vật thể vào chương trình giáo dục của bảo tàng để mang lại hiệu quả trên phương diện học tập và thưởng thức.
Helka Ketonen cho rằng, DSVH phi vật thể làm cho lịch sử trở nên sống động hơn thông qua các hoạt động và dịch vụ dành cho công chúng [57]. Christina Kreps (chuyên gia Nhân học bảo tàng của Hoa Kỳ) thể hiện sự đồng thuận với ý kiến của nhiều học giả, nhà thực hành bảo tàng, mô tả hiện vật đang “mất đi”, nói một cách đơn giản là đang thay đổi vị trí trong lý thuyết và những nỗ lực nhằm mang lại cho khách tham quan nhiều cơ hội học tập. Theo bà, vai trò từ hiện vật đã chuyển sang con người, các mối quan hệ của con người với hiện vật và mục đích phục vụ xã hội. Hiện vật và sưu tập có thể là “hòn đá tảng” của bảo tàng, nhưng chính những con người đằng sau hiện vật mới mang lại sự sống cùng ý nghĩa vẹn toàn 15 thông qua tương tác xã hội.
Do đó, cần có sự gần gũi hơn với cộng đồng là chủ thể của hiện vật và sưu tập bảo tàng [11, tr. Tác giả Steven Conn (Hoa Kỳ) cũng có quan điểm tương đồng với Christina Kreps khi đặt câu hỏi Các bảo tàng có còn cần đến hiện vật? (Do Museums Still Need Objects?) (2010). Câu trả lời là “sức mạnh” của hiện vật đã có sự thay đổi nhất định, hiện vật bảo tàng không còn giữ vai trò độc tôn trong việc kể những câu chuyện văn hóa và truyền đạt kiến thức [102].