Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Lịch sử với đề tài "Thành phố Hải Phòng từ năm 1888 đến năm 1945" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hoài Phương thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (bảo vệ năm 2015), thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại (mã số: 62225405), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Khánh và PGS. Nguyễn Hải Kế.
Tính cấp thiết của đề tài được tác giả xác định xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa và đô thị hóa tại Việt Nam hiện nay, đòi hỏi việc nghiên cứu lịch sử phát triển đô thị nhằm đúc rút các quy luật vận động mang tính lịch sử. Về mặt học thuật, Hải Phòng là vùng đất cửa sông ven biển giữ vị trí "phên dậu" phía Đông từ thời phong kiến, song phần nhân lõi đô thị cận đại hình thành muộn vào thập niên 70 của thế kỷ XIX. Ngay từ khi ra đời, đô thị này mang tính chất lai tạo giữa một thị tứ trung đại phong kiến với một thành thị thuộc địa do tác động từ chính sách bình định, khai thác của thực dân Pháp. Luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu về một công trình lịch sử tổng thể, phục dựng toàn diện tiến trình phát triển của Hải Phòng trên các phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa và mô hình quản trị trong giai đoạn 1888–1945.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được văn bản xác định cụ thể gồm năm nội dung:
- Khái quát quá trình hình thành của cảng thị Hải Phòng từ khởi thủy đến năm 1888 (năm thành lập thành phố) và quá trình phát triển của thành phố trong thời kỳ cận đại đến Cách mạng tháng Tám năm 1945.
- Trình bày có hệ thống về đời sống kinh tế của thành phố thời cận đại với các loại hình: công nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp, khai thác thủy - hải sản, du lịch - dịch vụ.
- Phân tích quá trình hội tụ cư dân đô thị, những biến đổi về dân số, giai cấp, thành phần dân tộc - quốc tịch; tóm lược phong tràu đấu tranh cách mạng; làm rõ thiết chế, mô hình quản lý và diện mạo đô thị thời cận đại.
- Phục dựng bức tranh sinh hoạt văn hóa ở thành phố với đặc trưng đời sống vật chất và đời sống tinh thần.
- So sánh, phân tích các nét đặc thù của đô thị cảng trong tương quan với các đô thị khác, xác định nguồn lực thúc đẩy sự phát triển và bài học lịch sử cho giai đoạn hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là lịch sử hình thành, quá trình phát triển cùng các đặc điểm kinh tế, xã hội và sinh hoạt văn hóa của thành phố Hải Phòng.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Trọng tâm là không gian đô thị (phần nhân lõi nội đô), tương ứng với địa bàn các quận nội thành Hồng Bàng, Ngô Quyền và Lê Chân hiện nay; đồng thời mở rộng khảo sát sang các quận huyện ngoại thành và một số địa bàn phụ cận khi cần xử lý các mối liên hệ không gian kinh tế - xã hội tổng thể.
- Phạm vi thời gian: Khung thời gian chính từ năm 1888 (năm thành lập thành phố theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương) đến năm 1945 (kết thúc thời kỳ cận đại). Ngoài ra, nghiên cứu mở rộng về giai đoạn trước năm 1888 (đặc biệt là dấu mốc Hiệp ước năm 1874) nhằm giải trình nguồn gốc hình thành cảng thị.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân tích và điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai hệ thống chính:
Các nghiên cứu trong nước:
- Thư tịch cổ và địa chí thời phong kiến: Các tư liệu địa chí về trấn/tỉnh Hải Dương như Dư địa chí, Hải Dương phong vật chí, Hải Dương toàn hạt dư địa chí, Phương đình dư địa chí, các ghi chép về các đơn vị tuần phòng bờ biển (Nha Hải phòng, Sở Hải phòng) thời Nguyễn.
- Nghiên cứu chung về kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa: Công trình của Đào Duy Anh (Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIX), Nguyễn Thế Anh (Việt Nam thời Pháp đô hộ), Nguyễn Văn Khánh (Cơ cấu kinh tế-xã hội Việt Nam thời thuộc địa), Dương Kinh Quốc (Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước cách mạng tháng Tám), Phan Trọng Báu (Giáo dục Việt Nam thời cận đại), Vũ Huy Phúc (Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858-1945), Tạ Thị Thúy (Đồn điền của người Pháp ở Bắc Kỳ 1884-1918), Vũ Thị Minh Hương (Nội thương Bắc Kỳ thời kỳ 1919-1939), Lê Quốc Sử (Một số vấn đề về lịch sử kinh tế Việt Nam).
- Khảo cổ học và hội thảo khoa học: Các phát hiện khảo cổ tại Cái Bèo, Việt Khê, Tràng Kênh; các kỷ yếu hội thảo khoa học do Hải Phòng tổ chức vào các năm 1981 (Chiến thắng Bạch Đằng năm 938), năm 1985 (Quá trình hình thành phát triển thành phố và đặc tính người Hải Phòng), năm 1987 (Hải Phòng bước ngoặt đầu thế kỷ XX), và hai hội thảo Xác định ngày thành lập thành phố (năm 2008, 2012).
- Tạp chí chuyên ngành và chuyên khảo địa phương: 13 số của Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử Hải Phòng (1985–1988) với các bài viết của Nguyễn Thừa Hỷ, Trịnh Ngọc Viện, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Nguyễn Nam, Đinh Xuân Lâm; các ấn phẩm Địa chí Hải Phòng tập 1 (1990), Lịch sử Đảng bộ Hải Phòng (tập 1 năm 1991, tập 2 năm 1996, tập 3 năm 2002), Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng (1998); sách nghiên cứu của Ngô Đăng Lợi, Trịnh Minh Hiên, Nguyễn Trọng Lê, Đoàn Trường Sơn, Nguyễn Thế Bỉnh, Phạm Xuân Thanh, cùng các nghiên cứu chuyên ngành ngành/đoàn thể (cảng Hải Phòng, nhà máy Xi măng, công đoàn).
Các nghiên cứu của học giả nước ngoài:
- Ghi chép khảo sát ban đầu: Báo cáo hàng hải của thuyền trưởng Vincent F. Senez (1872) trên tàu Bourayne; nhật ký, hồi ký và khảo sát của Jean Dupuis, Raymond Bonnal, B. Robertson (1876), Edouard Hocquard, Henri d’Orléans, Raoul Castex (1904), Edouard Brousmiche (1887), Paul Bonnetain, Albert Sarraut.
- Công trình nghiên cứu lịch sử và kinh tế thuộc địa: Charles Robequain (The Economic Development of French Indochina, 1944), Martin J. Murray (The Development of Capitalism in Colonial Indochina, 1980), John Villiers (The Southeast Asian Port and Polity, 1990), Julia Alayne Grenier Burlette (2007), Alfred Cunningham (2004), Julia Martinez (Chinese Rice Trade and Shipping from the North Vietnamese Port of Hai Phong, 2007), Nola Cooke, Li Tana, James A. Anderson (The Tonking Gulf through History, 2011), các nghiên cứu của Frank Broeze, Leonard Blussé, Wong Lin Ken, Norrdin Hussin, Eric Tagliacozzo.
- Luận án chuyên khảo: Luận án tiến sĩ của Gilles Raffi (Haiphong: Origines, conditions et modalités du développement jusqu'en 1921, Đại học Provence, 1994).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các nghiên cứu trước đã cung cấp tư liệu về từng khía cạnh cụ thể, song vẫn thiếu một công trình lịch sử tổng hợp bao quát toàn bộ tiến trình từ năm 1888 đến năm 1945. Luận án đặt sự phát triển của đô thị Hải Phòng trong hệ thống lý thuyết đô thị cảng biển, làm rõ mối liên hệ giữa các điều kiện tự nhiên - xã hội với mạng lưới kinh tế liên vùng (Bắc Kỳ - Vân Nam - Nam Trung Hoa - quốc tế), phân tích đồng bộ từ cơ cấu kinh tế, mô hình tổ chức hành chính, biến đổi xã hội cho đến đời sống văn hóa tinh thần của cư dân đô thị cận đại.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng các lý thuyết về đô thị, đô thị hóa và lịch sử mạng lưới cảng thị thuộc địa (port cities) hình thành từ nửa sau thế kỷ XIX tại khu vực châu Á và Đông Nam Á. Khung phân tích nhấn mạnh đến bốn đặc trưng của cảng thị thuộc địa theo các học giả quốc tế: định hướng quốc tế, chức năng kép (kinh tế kết hợp chính trị/quân sự), cơ chế thích ứng/mô phỏng, tính chất ly tâm về chính trị nhưng hướng tâm về kinh tế.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp giữa các phương pháp định tính và định lượng:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Khảo sát các sự kiện theo trình tự thời gian gắn với phân tích bản chất các chính sách khai thác thuộc địa và quy hoạch không gian.
- Phương pháp phân tích, đối chiếu và so sánh văn bản: Thẩm định chéo giữa nguồn thư tịch Hán Nôm, hồ sơ lưu trữ tiếng Pháp và báo chí đương thời để làm rõ các số liệu còn tranh luận.
- Phương pháp định lượng: Sử dụng kỹ thuật xử lý và thống kê số liệu đối với nguồn tư liệu địa bạ (về phân bố ruộng đất, sở hữu tư nhân), cơ cấu và biến động dân cư theo quốc tịch/giai cấp, bảng thống kê giá trị xuất nhập khẩu và lưu lượng tàu bè cập cảng.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực địa: Khảo sát hệ thống thủy văn sông Cấm, các phế tích, công trình kiến trúc, các làng/phường nội đô lịch sử (Gia Viên, An Biên, Hàng Kênh, Dư Hàng, Thượng Lý, Hạ Lý), khu phố Khách, khu nhượng địa và phỏng vấn các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương.
Nguồn tư liệu sử dụng gồm:
- Tư liệu lưu trữ: Khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (chủ yếu trong phông Phủ Toàn quyền Đông Dương và Phủ Thống sứ Bắc Kỳ với các serie C: Nhân sự, D: Tổ chức chính quyền trung ương, E: Tổ chức chính quyền địa phương, L: Thương mại - kỹ nghệ - du lịch, O: Giao thông đường thủy, U: Thương chính - thuế quan, J: Đường sắt - vận tải, R: Hoạt động biểu diễn, S: Y tế, G: Tòa án sơ thẩm Hải Phòng); Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III; Lưu trữ Thành ủy và Sở Nội vụ Hải Phòng; Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại Pháp (CAOM).
- Thư tịch cổ và Hán Nôm: Chính sử triều Nguyễn, địa bạ lập năm Gia Long thứ 4 (1805) của các xã thuộc huyện An Dương, hệ thống thần tích làng xã.
- Báo chí cận đại: Các tờ báo tiếng Pháp gồm Le Courrier de Haiphong (xuất bản 1886–1945 với hơn 15.000 số), L'Éveil économique de l'Indochine (1917–1935), Công báo Đông Dương (BOIF/JOIF), cùng báo chí tiếng Việt như Nam Phong, Tri Tân, Thanh Nghị, Đông Dương.
- Tư liệu bản đồ, hình ảnh và hồi ký: Bản đồ quy hoạch đô thị Hải Phòng qua các thời kỳ (1874, 1884, 1888), ảnh tư liệu tại Bảo tàng Hải Phòng và Thư viện Tổng hợp Hải Phòng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguồn tư liệu
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu liên quan đến vùng đất và đô thị Hải Phòng từ thời phong kiến đến thời thuộc địa, phân chia theo nhóm nghiên cứu trong nước và nước ngoài. Tác giả đánh giá những thành tựu đạt được từ tư liệu khảo cổ học, kỷ yếu hội thảo, các tập địa chí, chuyên khảo của học giả Pháp và quốc tế (tiêu biểu là Gilles Raffi). Đồng thời, chương này phân loại và phân tích độ tin cậy của năm nhóm nguồn tư liệu chính phục vụ luận án: tư liệu lưu trữ, thư tịch Hán Nôm, báo chí thời kỳ thuộc địa, hệ thống bản đồ - hình ảnh và tư liệu khảo sát điền dã thực địa.
Chương 2: Quá trình hình thành và sự ra đời của thành phố Hải Phòng
Chương này tái hiện tiến trình biến đổi của Hải Phòng từ một vùng đất đầm lầy ven biển mang chức năng phòng thủ bờ biển trở thành một đô thị cảng cấp I:
- Giai đoạn tiền đề (trước 1874): Điều kiện tự nhiên sông nước, địa thế cửa sông Cấm và các hoạt động quân sự, thương mại thời phong kiến.
- Giai đoạn từ Hiệp ước Philastre năm 1874 đến năm 1888: Ngày 15/3/1874, Hiệp ước Giáp Tuất mở cửa Ninh Hải. Ngày 31/8/1874, ký Hiệp ước thương mại thành lập Sở Thuế đoan Ninh Hải. Thực dân Pháp lập toà lãnh sự (tháng 5/1875) với 100 quân đồn trú, do Louis Turc và Kergaradec đứng đầu.
- Hoàn thiện thể chế hành chính: Ngày 22/6/1886, Tổng Trú sứ Paul Bert thông qua quyết định thành lập Ủy ban tư vấn thành phố Hải Phòng (gồm 16 thành viên: 12 người Pháp, 3 người Hoa, 1 người Việt). Ngày 11/9/1887, Nghị định tách tỉnh Hải Dương thành tỉnh Hải Phòng và tỉnh Hải Dương. Ngày 19/7/1888, Toàn quyền Richaud ký Nghị định số 87 thành lập Hội đồng thành phố Hải Phòng do Đốc lý đứng đầu (gồm 14 ủy viên), nâng Hải Phòng thành đô thị cấp I ngang hàng Hà Nội và Sài Gòn. Ngày 1/10/1888, vua Đồng Khánh ra đạo dụ nhượng hẳn thành phố cho Pháp.
- Quá trình tập trung dân cư: Năm 1888, dân số đạt khoảng 10.000 người (gồm 9.600 người Việt, 200 người Âu, 200 người Hoa). Cư dân bản địa nhập cư lập nên các làng/phố nghề (Đình Hạ, phố Bàng, xóm Bát).
- Hoạt động ngoại thương và thương cảng ban đầu: Thống kê số lượng tàu và giá trị hàng hóa qua cảng giai đoạn 1875–1888.
Bảng: Tổng giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu qua cảng Hải Phòng (1875–1888)
(Đơn vị: 1.000 francs)
| Năm |
Nhập khẩu |
Tốc độ tăng trưởng NK |
Xuất khẩu |
Tốc độ tăng trưởng XK |
Cán cân xuất nhập khẩu |
| 1875 |
866 |
100% |
682 |
100% |
-184 |
| 1880 |
5.150 |
595% |
7.513 |
1.102% |
+2.363 |
| 1885 |
18.491 |
507% |
721 |
16% |
-17.770 |
| 1888 |
30.191 |
828% |
9.339 |
210% |
-20.852 |
Bảng: Số lượng tàu cập cảng Hải Phòng theo quốc tịch (1875–1888)
(Đơn vị: chiếc)
| Năm |
Anh |
Pháp |
Đức |
Trung Hoa |
Nhật |
Hoa Kỳ |
Khác |
Tổng cộng |
| 1875 |
2 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
2 |
| 1880 |
34 |
38 |
22 |
6 |
6 |
3 |
8 |
117 |
| 1885 |
44 |
0 |
3 |
39 |
41 |
0 |
4 |
131 |
| 1888 |
27 |
0 |
1 |
78 |
20 |
0 |
17 |
143 |
Giai đoạn 1875–1882, trong 596 tàu cập cảng, tàu Pháp chỉ chiếm 65 chiếc (10,9%), trong khi tàu quốc tịch Anh chiếm 35% số lượng và hơn 50% tải trọng. Giai đoạn này cũng hình thành các doanh nghiệp công nghiệp đầu tiên: Công ty Dầu và Xà phòng (1887), Công ty Than (1888), Công ty Đường sông Bắc Kỳ (1888) và chi nhánh Ngân hàng Đông Dương (1885).
Chương 3: Hoạt động kinh tế
Chương 3 trình bày bức tranh kinh tế phức hợp của đô thị Hải Phòng trong giai đoạn 1888–1945:
- Kinh tế công nghiệp: Chia làm 3 thời kỳ phát triển (1874–1914, 1914–1929, 1929–1945). Nổi bật là công nghiệp đóng tàu, sửa chữa cơ khí, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng (nhà máy Xi măng Hải Phòng), chế biến nông - lâm - thủy sản, nhà máy tơ sợi, điện nước.
- Kinh tế thương nghiệp và dịch vụ cảng: Hoạt động của hệ thống kho cảng (khu Sáu Kho), nạo vét luồng sông Cấm. Phân tích vai trò và phạm vi hoạt động của bốn nhóm chủ thể thương mại:
- Thương nhân Pháp: Thao túng hệ thống xuất nhập khẩu lớn, độc quyền vận tải biển viễn duyên và hoạt động thông qua Phòng Thương mại Hải Phòng (thành lập năm 1884).
- Thương nhân Trung Hoa: Chiếm ưu thế trong mạng lưới thu gom nông sản (đặc biệt là lúa gạo xuất sang Hồng Kông), điều hành hệ thống kho bãi bờ bắc sông Cấm và chi phối bán buôn, bán lẻ nội địa.
- Thương nhân người Việt: Hoạt động ở phân khúc bán lẻ, đại lý thu gom nguyên liệu và dịch vụ hỗ trợ.
- Mạng lưới giao thương liên vùng: Trọng tâm là tuyến giao thương huyết mạch Cửa Cấm - sông Hồng - Vân Nam và tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội - Vân Nam khánh thành đầu thế kỷ XX.
- Các ngành kinh tế khác: Giao thông vận tải thủy - bộ, hệ thống ngân hàng - tín dụng, sản xuất thủ công nghiệp, đánh bắt và chế biến thủy hải sản, dịch vụ du lịch (khu nghỉ dưỡng Đồ Sơn) và kinh tế nông nghiệp ven đô.
Chương 4: Đời sống xã hội
Chương 4 khảo cứu sự cấu trúc lại xã hội Hải Phòng dưới tác động của chính sách cai trị và kinh tế đô thị:
- Bộ máy chính quyền: Cơ cấu tổ chức toà Đốc lý, Hội đồng thành phố, các phòng ban chuyên môn và mạng lưới cảnh sát, tư pháp.
- Biến động dân số và phân hóa cộng đồng: Sự gia tăng nhanh chóng của cư dân nhập cư từ các tỉnh châu thổ sông Hồng (Nam Định, Thái Bình, Hải Dương) biến Hải Phòng thành trung tâm quy tụ lao động làm thuê. Cấu trúc cư dân đa quốc tịch phân bố theo các khu vực không gian riêng biệt (khu phố Tây của người Pháp/Âu, phố Khách của người Hoa, khu phố lao động của người Việt, xóm ngụ cư người Ấn Độ tại phố Bati).
- Biến đổi cơ cấu giai cấp: Hình thành giai cấp công nhân công nghiệp và lao động cảng thị (thợ thuyền, phu khuân vác Sáu Kho, thợ xi măng, thợ cơ khí Caron); tầng lớp tư sản và tiểu tư sản đô thị; tầng lớp thị dân.
- Phong trào đấu tranh cách mạng: Lịch sử phong trào bãi công của công nhân cảng, công nhân xi măng, các hoạt động yêu nước và sự lãnh đạo của Đảng bộ Hải Phòng tiến tới cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945.
Chương 5: Đời sống văn hóa - giáo dục
Chương 5 phục dựng đời sống văn hóa của cư dân đô thị Hải Phòng thời cận đại:
- Văn hóa đảm bảo đời sống: Biến đổi về nhà ở (nhà gạch, biệt thự kiểu Pháp, nhà phố thương mại hình ống, nhà tranh vách đất khu lao động), ẩm thực và trang phục thị dân.
- Phương tiện giao thông đô thị: Sự xuất hiện của xe kéo tay (pousse-pousse), xe đạp, xe hơi, tàu điện và tàu thủy nội địa.
- Thiết chế y tế, giáo dục, thể thao: Thành lập các cơ sở y tế (Bệnh viện bản xứ, trại phong, trạm kiểm dịch làng Cấm); hệ thống trường học bảo hộ và tư thục (tiêu biểu như trường Bonnal - Bình Chuẩn); sự du nhập của các môn thể thao phương Tây (bóng đá, quần vợt, đua thuyền).
- Báo chí và xuất bản: Sự phát triển của các cơ sở in ấn, nhà in Viễn Đông (IDEO), hoạt động của tờ Le Courrier de Haiphong, các ấn phẩm của Phòng Thương mại và dòng báo chí tiến bộ.
- Đời sống văn học nghệ thuật và tín ngưỡng: Tiếp thu các trào lưu nghệ thuật mới (sân khấu kịch nói, ca nhạc cải cách) song hành cùng sự bảo tồn các không gian văn hóa tín ngưỡng truyền thống (đình, đền, chùa, hội làng) của các làng xã cổ đã sáp nhập vào không gian nội đô.
Kết quả và những đóng góp mới
- Đóng góp về mặt lý luận và khoa học lịch sử:
- Luận án phục dựng một bức tranh toàn cảnh, có hệ thống về lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Hải Phòng từ năm 1888 đến năm 1945 dựa trên cách tiếp cận liên ngành của lịch sử kinh tế, lịch sử xã hội và đô thị học.
- Xác định mô hình bản chất của Hải Phòng thời cận đại là một đô thị thuộc địa kiểu cảng thị có tính chất hỗn dung, lai tạo: kế thừa các yếu tố kinh tế - cư trú truyền thống của làng xã châu thổ sông Hồng kết hợp với cấu trúc không gian, công nghệ và thể chế quản trị tư bản thực dân Pháp.
- Phân tích rõ các động lực và nguồn lực phát triển của Hải Phòng, đặc biệt là vị trí cửa ngõ hướng biển của toàn bộ xứ Bắc Kỳ và vai trò đầu mối trung chuyển của tuyến hành lang kinh tế Cửa Cấm - sông Hồng nối liền với vùng Tây Nam Trung Quốc (Vân Nam).
- Đóng góp về mặt thực tiễn và tư liệu:
- Khai thác, xử lý và công bố nhiều tư liệu gốc từ các phông lưu trữ Pháp (CAOM, TTLTQG I, TTLTQG III), tư liệu địa bạ Hán Nôm năm 1805 và báo chí đương thời (Le Courrier de Haiphong).
- Khảo cứu chi tiết quá trình chuyển đổi pháp lý và không gian đô thị qua các mốc văn bản: Hiệp ước 1874, các nghị định thành lập Hội đồng tư vấn năm 1886, tách tỉnh năm 1887 và Nghị định số 87 ngày 19/7/1888 nâng Hải Phòng thành thành phố cấp I.
- Đúc kết các bài học lịch sử về quy hoạch không gian đô thị cảng, chính sách quản lý dân cư đa thành phần, việc kết hợp mạng lưới giao thông đa phương thức (thủy - bộ - sắt) và giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn di sản văn hóa bản địa với hiện đại hóa đô thị cho thành phố Hải Phòng giai đoạn hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế:
- Khối lượng hồ sơ lưu trữ tại các trung tâm lưu trữ trong và ngoài nước về Hải Phòng rất lớn (đặc biệt trong các phông chuyên ngành như Tòa án sơ thẩm, Thương chính, Công chính), do giới hạn thời gian và điều kiện tiếp cận nên tác giả chưa thể khai thác triệt để toàn bộ tư liệu gốc, một số mảng nội dung vẫn phải kế thừa nguồn tư liệu thứ cấp.
- Nguồn báo chí tiếng Pháp xuất bản tại Hải Phòng (Le Courrier de Haiphong) bị thất lạc và hư hỏng nhiều qua thời gian, gây khó khăn cho việc phục dựng liên tục từng sự kiện thường nhật.
- Nguồn tư liệu thần tích, văn bia Hán Nôm tại các làng xã thuộc khu vực nội đô còn lại với số lượng ít do quá trình đô thị hóa làm biến dạng di tích.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Khai thác sâu các phông lưu trữ tư pháp (án thương mại, án hình sự) để làm rõ hơn các biến động xã hội và xung đột pháp lý đô thị.
- Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu mô hình Hải Phòng với các đô thị cảng thuộc địa khác tại Đông Nam Á (như Singapore, Batavia, Penang, Tourane/Đà Nẵng, Sài Gòn).
- Khảo sát chi tiết hơn đời sống và tổ chức nội bộ của từng nhóm cộng đồng ngoại kiều thiểu số (Ấn Độ, Nhật Bản, Philippines) tại Hải Phòng thời kỳ thuộc địa.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đô thị, Lịch sử Kinh tế, Văn hóa học và Đông phương học.
- Các cơ quan nghiên cứu, ban ngành quản lý tại thành phố Hải Phòng (Sở Xây dựng, Viện Quy hoạch Kiến trúc, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Hội đồng Khoa học Lịch sử) trong việc hoạch định chính sách bảo tồn di sản kiến trúc đô thị thời thuộc địa và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển.
- Các nhà nghiên cứu quan tâm đến lịch sử thương mại quốc tế, mạng lưới giao thương vịnh Bắc Bộ và tuyến hành lang kinh tế nối miền Bắc Việt Nam với khu vực Tây Nam Trung Quốc.
Phần nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất gồm:
- Khảo cứu hệ thống hóa tư liệu lưu trữ và thư tịch tại Chương 1.
- Chuỗi số liệu thống kê xuất nhập khẩu và phân tích thể chế hành chính thành lập thành phố tại Chương 2.
- Bức tranh phân tích mạng lưới công thương nghiệp và hoạt động cảng biển tại Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Thành phố Hải Phòng chính thức được thành lập vào thời điểm nào và qua văn bản pháp lý nào?
Thành phố Hải Phòng chính thức được thành lập vào ngày 19/7/1888 theo Nghị định số 87 do Toàn quyền Đông Dương kiêm Tổng Trú sứ Trung - Bắc Kỳ Richaud ký, thành lập Hội đồng thành phố đứng đầu là Đốc lý và 14 ủy viên, đưa Hải Phòng trở thành đô thị cấp I. Đến ngày 1/10/1888, vua Đồng Khánh ra đạo dụ chính thức nhượng hẳn Hải Phòng cho thực dân Pháp.
2. Cơ cấu dân số của thành phố Hải Phòng vào năm thành lập (1888) như thế nào?
Năm 1888, tổng dân số thành phố Hải Phòng đạt khoảng 10.000 người. Trong đó, người Việt chiếm tuyệt đại đa số với 9.600 người (96%), người Âu chiếm khoảng 200 người (2%) và người Hoa chiếm khoảng 200 người (2%).
3. Tại sao trong giai đoạn đầu (1875–1888), tàu buôn và thương nhân Pháp lại chiếm tỷ lệ khiêm tốn tại cảng Hải Phòng?
Trong giai đoạn 1875–1882, trong tổng số 596 tàu cập cảng Hải Phòng, tàu quốc tịch Pháp chỉ có 65 chiếc (chiếm 10,9% số lượng), trong khi tàu Anh chiếm 35% về số lượng và hơn 50% về tải trọng, theo sau là tàu Trung Hoa (22,29%). Nguyên nhân là do mạng lưới hàng hải của Anh và các nghiệp đoàn thương nhân Hoa kiều tại Hồng Kông, Quảng Châu đã có căn cứ vững chắc từ trước, nắm giữ phần lớn hoạt động vận tải lúa gạo và hàng tiêu dùng; trong khi tư bản Pháp thời kỳ này chủ yếu tập trung bộ máy quân sự để bình định Bắc Kỳ.
4. Những doanh nghiệp công nghiệp đầu tiên nào được xây dựng tại Hải Phòng trong thập niên 1880?
Các cơ sở công nghiệp ban đầu được người Pháp thành lập tại Hải Phòng gồm có: Công ty Dầu và Xà phòng (thành lập năm 1887), Công ty Than (năm 1888), Công ty Đường sông Bắc Kỳ (năm 1888), cùng với chi nhánh Ngân hàng Đông Dương mở năm 1885 để phục vụ thanh toán thương mại.
5. Tuyến giao thương Cửa Cấm - Sông Hồng - Vân Nam giữ vai trò gì đối với sự hình thành của đô thị Hải Phòng?
Tuyến Cửa Cấm - sông Hồng - Vân Nam là mục tiêu chiến lược của thực dân Pháp nhằm mở đường tiếp cận tài nguyên và thị trường Tây Nam Trung Quốc sau các cuộc thám hiểm của Senez và Dupuis năm 1872. Hiệp ước 1874 mở cửa Ninh Hải đã biến Cửa Cấm thành điểm đầu của toàn bộ tuyến vận tải thủy ngược sông Hồng lên Vân Nam, biến Hải Phòng từ một tiền đồn phòng thủ ven biển thành cửa ngõ thương mại then chốt của toàn xứ Bắc Kỳ.
Kết luận
Luận án "Thành phố Hải Phòng từ năm 1888 đến năm 1945" của tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo, phục dựng hệ thống và toàn diện quá trình hình thành, phát triển của đô thị cảng Hải Phòng thời cận đại. Tác phẩm đã làm rõ sự chuyển hóa từ một vùng đầm lầy, cửa ngõ quân sự phong kiến thành một trung tâm công thương nghiệp, cảng biển cấp I với cơ cấu xã hội đa tầng và đời sống văn hóa hỗn dung thuộc địa. Dựa trên việc khai thác nguồn tư liệu lưu trữ phong phú kết hợp các số liệu định lượng về kinh tế - dân cư, luận án xác lập những luận cứ khoa học tin cậy về lịch sử đô thị hóa, cung cấp nhiều bài học có giá trị tham khảo cho quy hoạch và phát triển thành phố Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay.