Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI TÀY, THEN TÀY Ở CHỢ MỚI, BẮC KẠN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN 1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, lịch sử - xã hội, đời sống văn hóa của người Tày ở Chợ Mới, Bắc Kạn 1. Điều kiện tự nhiên Từ xa xưa Bắc Kạn đã nổi tiếng là một vùng đất giàu đẹp và nên thơ, đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn vẫn truyền lại hai câu ca dao quen thuộc: Bắc Kạn có suối đãi vàng Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh. Nằm ở phía Nam tỉnh Bắc Kạn, huyện Chợ Mới có một vị trí địa lý tương đối thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và giao lưu hàng hóa: phía bắc giáp huyện Bạch Thông và thị xã Bắc Kạn, đông giáp huyện Na Rì, tây giáp huyện Định Hóa, huyện Phú Lương (Thái Nguyên) và huyện Chợ Đồn, nam giáp các huyện Phú Lương, Đồng Hỷ, Võ Nhai (tỉnh Thái Nguyên)[17, tr.
Huyện Chợ Mới nằm trong khu vực thấp của tỉnh Bắc Kạn, độ cao trung bình dưới 300m, có địa hình đồi xen kẽ núi thấp, nhiều thung lũng, sông suối. Độ dốc trung bình từ 15 - 25o, thuận lợi cho canh tác nông lâm nghiệp kết hợp, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày và lâm nghiệp. Huyện Chợ Mới có hệ thống đường giao thông đi lại thuận tiện. Trục đường Quốc lộ 3 chạy dọc theo chiều dài của huyện, đi qua 6 xã, thị trấn.
Ngoài ra còn hệ thống đường liên xã tạo thành một mạng lưới giao thông phục vụ nhu cầu đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân các dân tộc trong vùng. Đây là một thuận lợi lớn, góp phần thúc đẩy giao lưu và phát triển kinh tế, khai thác các thế mạnh của huyện, đặc biệt là nguồn lợi từ rừng và tài nguyên du lịch. Sông Cầu là con sông lớn chảy qua địa phận Chợ Mới, đồng thời cũng là con sông lớn nhất tỉnh. Sông Cầu bắt nguồn từ nhiều con suối chảy từ địa phận xã Ngọc Phái, Phương Viên huyện Chợ Đồn, nơi có những đỉnh núi cao trên 1000 m, có đỉnh cao tới 1328m (thuộc xã Ngọc Phái)[17, tr.
Tuy nhiên, khi chảy qua địa phận 9 huyện Chợ Mới, dòng sông rộng, ít thác ghềnh. Vì thế, sông Cầu là tuyến đường thuỷ quan trọng phục vụ vận tải liên huyện và liên tỉnh, nối Chợ Mới với các tỉnh khác. Lưu lượng dòng chảy lớn, sông Cầu có vai trò quan trọng trong đời sống dân cư của hầu hết các xã trong huyện, mang tới nguồn thủy lợi dồi dào, đường giao thông ngược xuôi, nguồn thủy sản phong phú. Đặc biệt, sông Cầu bồi đắp cho các xã dọc lưu vực một lớp phù sa màu mỡ để phát triển nông, lâm nghiệp.
Khí hậu huyện Chợ Mới mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình cả năm từ 210 C - 230 C, ở tất cả các địa phương trong tỉnh nhiệt độ trung bình cả năm cũng đều trên 200 C [17, tr. Theo báo cáo của Chi cục thống kê huyện Chợ Mới thì lượng mưa của huyện thuộc loại trung bình 1. Các tháng có lượng mưa lớn là tháng 7 và 8, có khi mưa tới 100mm/ngày.
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và chiếm tới 75 - 80% lượng mưa cả năm. Nằm trong khu vực khí hậu gió mùa, mỗi năm có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông[5]. Mùa hạ có gió mùa đông nam, mùa đông có gió mùa đông bắc, trời giá rét, nhiều khi có sương muối, gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây trồng và gia súc nhưng lại là điều kiện để phát triển các loại cây ưa lạnh như cây gừng, hồi, quế. Những điều kiện tự nhiên như trên đã tác động không nhỏ đến đời sống vật chất lẫn tinh thần của đồng bào Tày ở nơi đây.
Đặc điểm về điều kiện tự nhiên ấy cũng để lại những dấu ấn sâu đậm trong Then đặc biệt là các bài Then Bách Điểu, Bách Thú, Bách Hoa. Đặc điểm lịch sử - xã hội Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, tỉnh Bắc Kạn nói chung và huyện Chợ Mới nói riêng đã phải trải qua những bước thăng trầm và các giai đoạn cách mạng khác nhau, nhất là về mặt địa giới hành chính. Vào thời các vua Hùng dựng nước, vùng đất Bắc Kạn hiện nay thuộc đất bộ Vũ Định, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Trong sách “Dư địa chí”, Nguyễn Trãi đã xác định: “ Vũ Định là phên giậu thứ hai về phương bắc”[17, tr.
Từ thời Đinh, Tiền Lê, Chợ Mới nằm trong châu Thái Nguyên, sau đó đổi thành tỉnh Thái Nguyên vào năm Minh Mạng thứ 12 (1831). Từ năm 1965 đến 1997 có 9 xã và 1 thị trấn phía nam của Bạch Thông sát nhập về huyện Phú Lương (Nông 10 Hạ, Nông Thịnh, Thanh Bình, Yên Đĩnh, Như Cố, Quảng Chu, Bình Văn, Yên Hân, Yên Cư và thị trấn Chợ Mới). Để đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của các dân tộc và sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ đổi mới, ngày 6-11-1996, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX kỳ họp thứ 10 đã phê chuẩn việc phân chia lại địa giới hành chính của một số tỉnh, trong đó chia tỉnh Bắc Thái thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn[17, tr. Theo đó tỉnh Bắc Kạn được tái thành lập và ra mắt ngày 01 tháng 01 năm 1997.
Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, Bạch Thông tiếp nhận 9 xã phía Bắc của huyện Phú Lương (gồm các xã Nông Thịnh, Nông Hạ, Yên Hân, Yên Cư, Thanh Bình, Bình Văn, Như Cố, Yên Đĩnh, Quảng Chu) và thị trấn Chợ Mới. Đến ngày 6 tháng 7 năm 1998 Chính phủ ban hành nghị định số 46 thành lập huyện Chợ Mới trên cơ sở tách huyện Bạch Thông thành hai đơn vị hành chính là huyện Bạch Thông và huyện Chợ Mới[17, tr. Theo số liệu thống kê tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2016, huyện có tổng diện tích tự nhiên là 60.651 ha, số dân là 39.648 người, gồm 16 đơn vị hành chính (15 xã và 01 thị trấn). Huyện Chợ Mới là nơi sinh sống của 8 dân tộc anh em: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông, Hoa, Sán Chay, Sán Chí.
Trong đó, dân tộc Tày chiếm 57,21% tổng dân số có trong địa bàn. Người Tày ở Chợ Mới phân bố rải rác trên toàn huyện, trong đó chủ yếu sống tập trung ở các xã như Quảng Chu, Nông Hạ, Yên Cư, Cao Kỳ, Hòa Mục, Yên Hân, Bình Văn [5]. Người Tày thường sống sống quần tụ thành từng thôn bản ở chân núi, sườn đồi, những nơi có địa hình bằng phẳng và ven các con suối nhỏ. Điều này đã để lại dấu ấn trong các tên làng, tên bản như Nà Mố, Nà Khon, Roỏng Tùm, Khe Thỉ, Khe Lắc….Nền kinh tế chủ yếu của người Tày ở Chợ Mới là sản xuất nông nghiệp.
Người Tày là cư dân sống trên đất Bắc Kạn từ rất sớm, người Trung Quốc gọi người Tày là “ Pủn Tày nhằn” (người bản địa), họ cũng gọi là “Thủ nhằn” (người Thổ) [17, tr. Riêng người Tày ở Chợ Mới, Bắc Kạn được tạo nên từ hai bộ phận chính là: người bản địa từ thời nguyên thủy, người Tày gốc Kinh ở miền xuôi lên. Hai bộ phận hợp thành một, giữ vai trò chủ chốt là người Tày bản địa, nhưng chính bộ phận còn lại đã tạo nên sự bổ sung cần thiết để tạo nên bản sắc dân tộc Tày. 11 Dù chiếm ưu thế nhưng người Tày luôn thể hiện sự tôn trọng, tiếp thu có chọn lọc nền văn hóa của các dân tộc anh em khác, sống đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau vượt qua mọi khó khăn thử thách, hướng tới xây dựng bản làng, quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy hầu hết các bài Then cổ đều được những người dân tộc Tày bản địa sưu tầm và lưu giữ nhất là khu vực các xã Yên Cư, Yên Hân, Bình Văn, Nông Hạ, Cao Kỳ… của huyện Chợ Mới, Bắc Kạn. Đời sống văn hóa Cũng như người Tày ở những địa phương khác, người Tày ở Chợ Mới, Bắc Kạn có một đời sống văn hóa vật chất lẫn tinh thần hết sức đa dạng và giàu bản sắc. Về kiến trúc, có thể thấy không gian sinh hoạt và văn hóa của người Tày hầu hết gắn với ngôi nhà sàn (rườn chạn). Từ xa xưa, người Tày vốn thường cư trú ở miền núi, chân ruộng bậc thang, bên các khe suối nên họ dựng nhà sàn để ở vừa để đảm bảo thuận lợi cho sinh hoạt vừa để đối phó với thiên nhiên.
Cấu trúc ngôi nhà của người Tày là nhà sàn 4 mái (2 mái to, 2 mái nhỏ), ngôi nhà hình chữ nhật, hết thảy đều có cầu thang lên nhà, cửa chính bao giờ cũng mở về hướng nước chảy đến, giữa nhà là bếp lửa dùng để sưởi và đun nấu, nhà nào cũng có bàn thờ tổ tiên [17, tr. Người Tày cũng rất quan tâm đến việc chọn hướng nhà. Hầu như nhà sàn nào cũng chọn thế phía sau dựa vào núi, phía trước nhà quay xuống vườn, ruộng, khe suối… Đối với gia đình người Tày, chỗ ăn, chỗ ngủ, chỗ ở của mọi thành viên trong gia đình đều gắn liền với ngôi nhà sàn. Mặt bằng sàn là nơi quan trọng, thể hiện đậm nét sinh hoạt và tôn ti trật tự trong gia đình.
Hiện nay do nhiều yếu tố của đời sống hiện đại, tính kinh tế, tiện ích…vv nên một số gia đình ở đây cũng đã chuyển sang xây dựng nhà đất, nhà gạch, nhưng nhìn chung, nhà sàn truyền thống vẫn được ưa chuộng. Có thể thấy nhà sàn đã gắn bó với đời sống sinh hoạt, nghi lễ, phong tục tập quán của người Tày từ bao đời nay. Ngôi nhà sàn cũng là địa điểm, không gian diễn xướng chủ yếu của những lời hát Then, tạo nên một nét văn hóa độc đáo của con người nơi đây. Trang phục truyền thống của người Tày ở Chợ Mới, Bắc Kạn cũng giống như nhiều nơi khác thường mặc quần áo bằng vải sợi bông, phụ nữ Tày đầu vấn khăn, mặc áo dài đến bắp chân, ống tay hẹp, xé nách và cài cúc ở bên phải, thắt lưng bằng vải, tất cả đều được nhuộm màu chàm [17, tr.
Trang phục nói trên được gọi là 12 áo chàm. Áo chàm gắn bó với đời sống sinh hoạt của người Tày và đi vào các lời hát Then một cách dung dị, tinh tế. Áo chàm của người Tày không có những hoa văn cầu kì như trang phục của một số dân tộc khác nhưng vẫn có những nét đẹp rất riêng. Chiếc áo chàm dành cho phụ nữ Tày có dáng gần giống với chiếc áo dài truyền thống của dân tộc Việt.