phần mở đầu truyện đó là: … “tại một làng nọ”, … “vùng đất kia”, … “nhà kia”, … 14 z Những yếu tố chỉ không gian này được nhắc đến như một khái niệm, một ý niệm về không gian chứ không được miêu tả một cách cụ thể. Ngoài ra, công việc, hành động của nhân vật gợi cho chúng ta thấy được không gian của truyện cổ tích là không gian của làng quê nhưng cũng không được mô tả cụ thể. Không gian này làm cho truyện cổ tích gần gũi, thân thuộc của người nghe, làm cho người nghe dễ đồng cảm với nhân vật bất hạnh trong câu chuyện. Truyện cổ tích còn có một lớp không gian nữa đó là lớp không gian thần kỳ, kỳ ảo - không gian không cản trở.
Không gian này dung chứa các yếu tố thần kỳ của truyện cổ tích. Không gian thần kỳ mang yếu tố hư ảo, xa lạ đối với con người. Nhân vật trong truyện cổ tích nhất là cổ tích thần kỳ, con người gần như không già đi, không ốm đau, không thất bại trước một thế lực phản diện nào, thậm chí họ còn có thể biến hóa vào thế giới của muôn loài. Trong truyện cổ tích hai lớp không gian hiện thực và không gian thần kỳ đan xen lẫn nhau.
Nhân vật cổ tích đi về giữa hai lớp không gian ấy, giữa hai cõi mơ và thực. Chuyện của cổ tích luôn chuyển hóa linh hoạt giữa mơ và thực, thực và mơ. Từ những yếu tố không gian nghệ thuật của truyện cổ tích đã nêu, ta có thể khẳng định: không gian nghệ thuật cổ tích không có không gian tâm lý. Chèo truyền thống 1.
Một số khái niệm Chèo cổ: là Chèo do các nghệ sĩ Chèo sáng tác và biểu diễn từ thế kỷ XIX trở về trước, với nội hàm khái niệm như vậy, các vở Chèo được sáng tác và biểu diễn nửa đầu thế kỷ XX được xem là chèo thời kỳ cận đại và thuộc nửa sau thế kỷ XX thì được xem là Chèo thời kỳ hiện đại. Chèo truyền thống: là Chèo cổ được kế thừa và phát triển trên nguyên tắc bảo tồn những nguyên tắc cơ bản trong phương pháp nghệ thuật của Chèo cổ. Các vở diễn Chèo truyền thống trước hết là các vở diễn theo các tích Chèo cổ được tiếp nhận từ việc truyền nghề của các nghệ nhân, được chỉnh lý nâng cao qua diễn xuất của các nghệ sỹ đương đại. Các vở diễn Lưu Bình Dương Lễ, Quan Âm Thị Kính, Trương Viên… mà người hôm nay được xem chỉ có thể gọi là Chèo truyền thống, chứ không thể gọi là Chèo cổ được (chúng khác với tranh cổ, đồ cổ có niên đại rõ ràng và chỉ có thể bị hư hại chứ không ai thêm bớt được).
15 z Với nội hàm khái niệm trên, nghiên cứu “Dấu ấn của truyện cổ tích trong chèo truyền thống” cũng chính là nghiên cứu các dấu ấn cổ tích trong Chèo cổ và nghiên cứu các nguyên tắc cơ bản trong phương pháp nghệ thuật của Chèo truyền thống cũng chính là nghiên cứu các nguyên tắc cơ bản trong phương pháp nghệ thuật của Chèo cổ. Chèo hiện đại: + Hiểu theo nghĩa hẹp: Chèo hiện đại là chèo đề tài hiện đại, phản ánh cuộc sống đương thời, nói về con người đương thời và phục vụ khán giả đương thời. + Hiểu theo nghĩa rộng: Chèo hiện đại là Chèo do các nhà văn, nghệ sĩ ngày nay sáng tạo ra, nhằm phục vụ cho đời sống văn hóa của người đương thời. Theo cách hiểu thứ hai thì phạm vi đề tài không bị hạn chế ở cuộc sống đương thời.
Nó bao gồm cả đề tài khai thác từ kho tàng truyện dân gian, dã sử, huyền thoại, lịch sử và kể cả những truyện dân gian mới do các nhà soạn chèo tự sáng tác theo các môtip của truyện dân gian và đề tài hiện đại. Trong luận văn này, chúng tôi đồng ý với ý kiến và quan điểm của GS. Trần Bảng và TS. Trần Đình Ngôn về cách dùng danh xưng Chèo truyền thống.
Chính vì thế chúng tôi lại tiếp tục sử dụng nội hàm khái niệm về Chèo truyền thống của 2 tác giả trên trong bài viết của mình. Trần Đình Ngôn trong cuốn Những nguyên tắc cơ bản trong nghệ thuật Chèo đã nói: “Chèo bao gồm cả các tác phẩm (vở diễn) từ xa xưa cho đến ngày nay mà trong đó các vở diễn Chèo mới (từ năm 1950 đến nay) còn khá nhiều vấn đề về phương pháp nghệ thuật, nhiều vở diễn không còn tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của hình thức sân khấu được gọi là Chèo của ông cha xưa. Chúng tôi cũng không xác định đối tượng nghiên cứu công trình này là Chèo cổ bởi vì thực ra trong di sản còn để lại không có vở diễn Chèo cổ. Kịch bản Chèo cổ thì có.
Đó là những kịch bản Chèo do các nghệ sĩ Chèo xưa sáng tác được lưu truyền còn nguyên dấu tích lịch sử của nó. Các kịch bản Chèo cổ đã được sưu tầm và xuất bản sau khi các học giả sân khấu Chèo đã hiệu đính, lược bỏ những câu chữ mà các nghệ sĩ Chèo đầu thế kỷ XX đã thêm thắt vào theo cách nói, lời nói không phải của người xưa. Chúng tôi cho rằng không có vở diễn Chèo cổ, hay nói một cách chính xác hơn là chúng ta không tiếp cận được các vở diễn Chèo cổ bởi một lẽ rất đơn giản, đó là vì chúng ta là người thời nay còn các vở diễn Chèo 16 z cổ đã hiện diện và chỉ hiện diện trong đời sống sân khấu thời xưa. Lịch sử Chèo chỉ để lại được kịch bản cổ, hay nói như cách của nghề Chèo là tích diễn cổ, chứ không thể để lại trò diễn cổ, vở diễn cổ, bởi lẽ các tích diễn cổ chỉ được tái diễn theo dòng thời gian qua sự tiếp nhận vốn cổ và đóng góp thêm phần sáng tạo của các nghệ sĩ biểu diễn hết thế hệ này đến thế hệ khác.
Các vở diễn theo tích cổ chỉ là những vở diễn “phục chế” Chèo cổ và “phục chế” không nguyên vẹn mà thôi. Chính vì vậy, nếu xác định đối tượng nghiên cứu là sân khấu Chèo với các tác phẩm của nó là các vở diễn và phải là các vở diễn (chứ không thể chỉ là kịch bản) thì chúng ta chỉ có thể tiếp cận với các vở diễn Chèo cổ được “phục chế không nguyên vẹn” và đã có phần “đánh bóng mạ kền” của các nghệ sĩ đương đại” [48, tr. Một số đặc trưng cơ bản của nghệ thuật Chèo truyền thống Chèo là hình thức sân khấu dân gian có lịch sử lâu đời, là “hình thức ca kịch dân gian cổ truyền thuần Việt phổ biến nhất ở đồng bằng Bắc Bộ” [34, tr. Chèo được coi là loại hình sân khấu độc đáo vào bậc nhất của sân khấu truyền thống, kết tinh những tinh hoa của dòng kịch hát dân tộc, chú trọng đến cả lời thơ, giọng ca và vũ đạo.
Sự hình thành và phát triển của Chèo là cả một quá trình. Cùng với những thăng trầm của lịch sử, những bể dâu của cuộc đời, nghệ thuật Chèo vẫn tồn tại và có tác động to lớn trong đời sống tinh thần của dân tộc, là một công cụ hữu ích để “nhận thức, khám phá và sáng tạo thực tại xã hội” (Phạm Văn Đồng), tất nhiên theo kiểu của Chèo, góp phần khẳng định bản lĩnh của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Đặc trưng của hiện tượng sân khấu dân tộc này đã được trình bày tương đối toàn diện và hệ thống trong nhiều công trình liên quan đến Chèo. Chính vì vậy, khi đề cập đến ngành nghệ thuật mang đậm chất dân gian này, mục đích của chúng tôi chỉ là trình bày những nét cơ bản nhất, những điểm cốt tử của sân khấu Chèo dựa trên sự tổng hợp, phân tích của các nhà nghiên cứu về nghệ thuật Chèo.
Các nhà nghiên cứu tâm huyết với sân khấu truyền thống của cha ông đã có nhiều kiến giải thú vị và sâu sắc về nghệ thuật Chèo. Những khác biệt trong quan điểm của họ không phải là không có, nhưng về cơ bản, các nhà nghiên cứu đã thống nhất với nhau trên nhiều phương diện khi bàn về sân khấu Chèo với những đặc trưng của nó. Dưới đây chúng tôi sẽ tổng thuật ý kiến của một số nhà nghiên cứu về vấn đề này. 17 z Trong “Cách viết một vở chèo và Về nghệ thuật chèo”, nhà nghiên cứu Trần Việt Ngữ đã trình bày sáu đặc điểm cơ bản của sân khấu Chèo, đó là: - Chèo thuộc loại sân khấu khuyến giáo đạo đức - Chèo thuộc loại sân khấu kể chuyện - Chèo thuộc loại sân khấu ước lệ và cách điệu - Tính tổng hợp nghệ thuật của Chèo mang sắc thái độc đáo - Sự kết hợp giữa cái bi và cái hài trở thành nguyên tắc kịch thuật của Chèo - Đặc điểm đa dùng và chuyên dùng đã bộc lộ khá rõ quy luật phát triển của Chèo Gs.
Trần Bảng trong giáo trình “Khái luận về chèo” đã trình bày khá tỉ mỉ về hiện tượng sân khấu dân tộc này. Ông cho rằng sân khấu Chèo có những đặc điểm cần lưu ý như sau: - Chèo - sân khấu tự sự - Chèo - sân khấu ước lệ - Chèo - nghệ thuật diễn ngẫu hứng - Chèo - phương pháp xây dựng xử lý và chuyển hóa mô hình Với những nhận định đó, nhà nghiên cứu đưa ra những ý kiến khá quan trọng về vấn đề bảo tồn và phát triển nghệ thuật mang đậm bản sắc dân tộc của cha ông. TS Tất Thắng trong công trình “Sân khấu truyền thống từ chức năng giáo huấn đạo đức” cũng như những bài giảng về thi pháp kịch đã đề cập đến đặc trưng thể loại của Chèo về phương diện nội dung cũng như nghệ thuật. Về nội dung, theo ông Chèo là sân khấu khuyến giáo đạo đức.
Tính giáo huấn “mà trung tâm là giáo huấn đạo đức, là một đặc trưng nổi bật của sân khấu truyền thống Việt Nam”. Đặc điểm này “nhiều khi bao trùm lên chi phối tất cả các yếu tố nội dung diễn tả và nghệ thuật diễn tả” [71, tr. Từ chức năng đặc thù ấy, tác giả Tất Thắng đã xác định những biện pháp mỹ học chủ yếu của nghệ thuật Chèo, trong đó không thể không nhắc đến tính kể chuyện (tính tự sự), xu thế hài hước hóa và hệ thống động tác ước lệ vũ đạo. Những đặc trưng này được tác giả “Sân khấu truyền thống từ chức năng giáo huấn đạo đức” phân tích rất cụ thể với những hiểu biết sâu sắc trong nhiều công trình, bài viết khác nhau.
Đây cũng là những quan điểm tương đối nhất trí của một số nhà sân khấu học Việt Nam.