Tổng quan nghiên cứu

Cộng đồng người Tày tại tỉnh Cao Bằng hiện chiếm khoảng 43% dân số toàn tỉnh, là chủ nhân của một kho tàng văn hóa dân gian vô cùng phong phú và đặc sắc. Tại huyện Thạch An, địa bàn gồm 16 đơn vị hành chính cấp xã với tổng diện tích tự nhiên hơn 68.000 ha, người Tày cư trú lâu đời và sáng tạo nên lễ hội Nàng Hai – một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng nông nghiệp tiêu biểu. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải mã toàn diện các giá trị nội dung tư tưởng và đặc điểm thi pháp của những khúc hát Lượn Hai trong không gian lễ hội Nàng Hai truyền thống.

Mục tiêu cụ thể của công trình là khảo sát, phân loại và phân tích hệ thống lời ca Lượn Hai, từ đó làm rõ vẻ đẹp tâm hồn, tư duy thẩm mỹ và khát vọng phồn thực của cư dân nông nghiệp miền núi. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian văn hóa huyện Thạch An, đặc biệt là các địa bàn còn lưu giữ nguyên vẹn nghi lễ như xã Kim Đồng, với mốc khảo sát tư liệu thực địa từ năm 2008 đến năm 2010.

Nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc trong bối cảnh các hình thức diễn xướng cổ truyền đang đứng trước nguy cơ mai một. Theo ước tính từ các cuộc điều tra văn hóa cơ sở, việc bảo tồn các bài bản Lượn Hai cổ giúp lưu giữ hơn 80% vốn từ vựng Tày cổ và phong tục tập quán truyền thống. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp tài liệu quý giá cho ngành Văn học dân gian mà còn tạo tiền đề khoa học vững chắc để địa phương phục dựng lễ hội định kỳ 3 năm một lần, thúc đẩy phát triển du lịch di sản bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết văn học dân gian nguyên hợp làm nền tảng chủ đạo, nhìn nhận lời ca Lượn Hai không tách rời môi trường diễn xướng, âm nhạc và nghi lễ tâm linh. Bên cạnh đó, tác giả kết hợp lý thuyết thi pháp học văn học dân gian và lý thuyết văn hóa tộc người để giải mã cấu trúc biểu tượng, ngôn ngữ nghệ thuật và thế giới quan của cư dân nông nghiệp.

Hệ thống nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm then chốt:

  • Lượn Hai: Thể loại dân ca nghi lễ đặc thù chỉ được cất lên trong không gian lễ hội Nàng Hai để thỉnh mời và ca ngợi Mẹ Trăng.
  • Diễn xướng dân gian: Hình thức trình diễn tổng hợp giữa lời ca, điệu múa, cử chỉ và nhạc khí trong không gian thiêng.
  • Mẻ Cốc: Nghệ nhân giữ vai trò chủ trì, dẫn dắt các nghi thức tâm linh và truyền dạy bài bản cổ.
  • Biểu tượng Mẹ Trăng: Hình tượng thần linh tối cao cai quản sản xuất nông nghiệp và đời sống trần gian theo thế giới quan thần thoại Tày.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ 3 nguồn tư liệu thành văn uy tín cùng hệ thống ghi âm, chép lời trực tiếp từ các nghệ nhân dân gian tại bản Chu Lăng, xã Kim Đồng. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 100 khúc hát Lượn Hai nguyên bản tiếng Tày kèm bản dịch nghĩa tiếng Việt. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu mục tiêu phi ngẫu nhiên, ưu tiên chọn lọc các bài Lượn cổ tiêu biểu, các bài Lượn qua từng cửa ngõ mường trời và những khúc ca đối đáp giàu giá trị nghệ thuật.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích văn bản kết hợp nghiên cứu liên ngành văn học, dân tộc học và văn hóa học là nhằm tiếp cận toàn diện đối tượng từ cấu trúc ca từ đến chức năng xã hội. Tác giả sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học để quan sát trực tiếp diễn xướng, phỏng vấn sâu nghệ nhân và phương pháp thống kê, phân loại để định lượng các thể thơ, biện pháp tu từ. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong giai đoạn 2008 - 2010 với độ tin cậy và tính xác thực học thuật cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn đã hệ thống hóa và phân loại 3 hình thức tổ chức lễ hội Nàng Hai tại Cao Bằng. Tại Thạch An, hình thức thứ 3 là phổ biến và quy mô nhất, kéo dài từ ngày 30 tháng Giêng đến trung tuần tháng 3 âm lịch, dung hợp trọn vẹn giữa phần lễ trang nghiêm và phần hội rực rỡ với tỷ lệ tham gia của cộng đồng đạt gần 100%.

Thứ hai, nghiên cứu xác lập cơ cấu nhân vật diễn xướng hoàn chỉnh gồm 1 Mẻ Cốc, 2 Nàng Trăng (Nàng Gường và Nàng Sở), 2 Củ Tiến bảo vệ và đội múa Mụ Nàng gồm từ 10 đến 14 thiếu nữ thanh tân. Đội múa được chia đều 50% đeo khăn vàng và 50% đeo khăn đỏ, biểu trưng cho sự hài hòa âm dương và vẻ đẹp tinh khôi của thiếu nữ miền sơn cước.

Thứ ba, khảo sát thi pháp chỉ ra rằng hơn 85% các khúc Lượn Hai được sáng tác theo thể thơ 5 chữ và 7 chữ linh hoạt, vần chân kết hợp vần lưng nhuần nhuyễn. Hành trình lên mường trời trong lời hát của người Tày Thạch An trải qua 6 cửa Mẹ Trăng, phản ánh tư duy không gian đa tầng với 100% biểu tượng gắn liền với đời sống nương rẫy, sông suối và làng bản.

Thứ tư, nội dung Lượn Hai là bức tranh chân thực về nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp. Toàn bộ hệ thống ca từ phản ánh đầy đủ quy trình sản xuất các sản vật đặc trưng như lúa nếp pí pất, ngô, sắn, dâu tằm và chăn nuôi cá, thể hiện rõ khát vọng mưa thuận gió hòa và sinh sôi nảy nở.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  CẤU TRÚC DIỄN XƯỚNG LỄ HỘI NÀNG HAI                     |
+-------------------------------------------------------------------------+
|  1. Phần Lễ (Tâm linh - Nghi thức)  |  2. Phần Hội (Giao duyên - Diễn xướng)
|  - Lễ đón Trăng (Nhập hồn Nàng Hai) |  - Hát Lượn đối đáp nam nữ        |
|  - Lễ cầu Trăng (Hành trình 6 cửa) |  - Diễn trò dân gian, múa quạt    |
|  - Lễ tiễn Trăng (Thả thuyền hoa)  |  - Giao lưu ẩm thực cộng đồng      |
+-------------------------------------+-----------------------------------+
|  => Nhân vật trung tâm: 01 Mẻ Cốc | 02 Nàng Trăng | 10-14 Mụ Nàng       |
+-------------------------------------------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa qua bảng so sánh cấu trúc nghi lễ giữa các địa phương hoặc biểu đồ phân bổ thể loại thơ ca trong Lượn Hai. Kết quả khảo sát chứng minh tính độc đáo của Lượn Hai Thạch An so với các vùng lân cận nằm ở tính chất sân khấu hóa dân gian kết hợp chất trữ tình đằm thắm. Nguyên nhân xuất phát từ điều kiện địa hình thung lũng đồi thoải ven sông suối, tạo không gian lý tưởng cho việc tụ hội và giao lưu văn nghệ quần chúng.

So sánh với các nghiên cứu về hát Then và Lượn Slương của người Tày, Lượn Hai mang tính thiêng và chức năng cầu mùa rõ nét hơn. Ca từ không chỉ là tiếng hát giao duyên thuần túy mà là lời thỉnh cầu tâm linh mang tính đại diện cho cả bản mường gửi tới Mẹ Trăng. Nghiên cứu khẳng định Lượn Hai là cầu nối gắn kết cộng đồng bền chặt, giải tỏa những lo âu trước thiên tai khắc nghiệt và nuôi dưỡng niềm lạc quan lao động cho đồng bào Tày.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm bảo tồn và phát huy giá trị khúc hát Lượn Hai:

  1. Số hóa và tư liệu hóa toàn diện: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cao Bằng chủ trì ghi âm, ghi hình và phiên âm 100% các khúc Lượn Hai cổ, xuất bản 500 tập sách tư liệu song ngữ Tày - Việt trong giai đoạn 2026 - 2027.
  2. Đưa di sản vào trường học: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thạch An triển khai chương trình giáo dục di sản địa phương, đưa làn điệu Lượn Hai vào giảng dạy ngoại khóa với thời lượng ít nhất 2 tiết mỗi học kỳ cho 100% học sinh trung học cơ sở từ năm học 2026.
  3. Thành lập câu lạc bộ và tôn vinh nghệ nhân: Ủy ban nhân dân huyện Thạch An xây dựng tối thiểu 5 câu lạc bộ Lượn Hai tại các xã Kim Đồng, Lê Lai, Đức Xuân; cấp kinh phí hỗ trợ nghệ nhân Mẻ Cốc mở các lớp truyền dạy trực tiếp cho 30 học viên trẻ hàng năm, hoàn thành mục tiêu trước quý 4 năm 2027.
  4. Phát triển sản phẩm du lịch văn hóa: Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh phối hợp chính quyền địa phương phục dựng không gian diễn xướng Lượn Hai gắn với tour du lịch trải nghiệm sinh thái, đặt mục tiêu tăng trưởng 25% lượng khách du lịch văn hóa đến Thạch An vào năm 2028.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Văn học dân gian, Văn hóa học, Dân tộc học: Luận văn cung cấp hơn 120 trang phân tích chuyên sâu về thi pháp, cấu trúc ca từ và phương pháp tiếp cận diễn xướng nguyên hợp.
  2. Cán bộ quản lý văn hóa và bảo tồn di sản tại các tỉnh miền núi phía Bắc: Ứng dụng khung lý thuyết và kết quả khảo sát thực địa để xây dựng hồ sơ khoa học đề nghị công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
  3. Nghệ nhân dân gian, nhà nghiên cứu văn hóa Tày - Nùng: Khai thác hệ thống dị bản lời ca, vốn từ vựng Tày cổ và phong tục tập quán tại 16 xã thuộc huyện Thạch An để phục vụ công tác sưu tầm, dịch thuật.
  4. Doanh nghiệp lữ hành và chuyên gia phát triển du lịch cộng đồng: Sử dụng kịch bản lễ hội và giá trị văn hóa bản địa để thiết kế các sản phẩm du lịch di sản đặc sắc, nâng tỷ lệ hài lòng của du khách lên trên 90%.

Câu hỏi thường gặp

Khúc hát Lượn Hai trong lễ hội Nàng Hai có điểm gì khác biệt so với các làn điệu Lượn khác?

Lượn Hai là thể loại dân ca nghi lễ gắn chặt với không gian thiêng của lễ hội Nàng Hai, mang tính chất sân khấu hóa dân gian. Khác với Lượn Slương hay Lượn Cọi dùng để giao duyên đời thường, Lượn Hai phục vụ mục đích cầu mùa, tế lễ Mẹ Trăng và chỉ diễn ra trong khoảng thời gian từ tháng Giêng đến tháng 3 âm lịch.

Vai trò của nhân vật Mẻ Cốc trong không gian diễn xướng Lượn Hai là gì?

Mẻ Cốc là linh hồn của buổi lễ, người nắm giữ toàn bộ hệ thống bài bản Lượn cổ và quy tắc nghi lễ. Mẻ Cốc trực tiếp thực hiện nghi thức nhập hồn, dẫn đường cho đoàn quân vượt 6 cửa mường trời và truyền dạy lời ca, điệu múa cho hai thiếu nữ đóng vai Nàng Trăng.

Ngôn ngữ và thể thơ của Lượn Hai có những đặc trưng tiêu biểu nào?

Lượn Hai sử dụng chủ yếu thể thơ 5 chữ và 7 chữ với cách gieo vần linh hoạt, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lối nói vần phuối pác, phuối rọi dân gian. Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh so sánh, nhân hóa, sử dụng từ ngữ Tày cổ phản ánh đậm nét cảnh sắc thiên nhiên và sinh hoạt lao động miền núi.

Vì sao lễ hội Nàng Hai lại phản ánh sâu sắc tín ngưỡng nông nghiệp và phồn thực?

Lễ hội bắt nguồn từ khát vọng cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và nhân khang vật thịnh. Lời ca Lượn Hai cầu xin Mẹ Trăng ban phát các giống lúa quý, dâu tằm khỏe mạnh và xua đuổi sâu bọ phá hoại mùa màng, thể hiện ước muốn sinh sôi nảy nở của vạn vật.

Không gian hành lễ lên mường trời trong Lượn Hai tại Thạch An gồm bao nhiêu cửa?

Tại huyện Thạch An, lộ trình tâm linh của các Nàng Trăng phải đi qua 6 cửa ải, mỗi cửa do một Mẹ Trăng cai quản một nhiệm vụ nông nghiệp riêng biệt. Lời hát tại mỗi cửa tuân theo trình tự chào hỏi, dâng lễ vật, xin giống cây con và cầu xin phúc lành cho trần gian.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ toàn diện giá trị nội dung và thi pháp của khúc hát Lượn Hai trong lễ hội Nàng Hai tại Thạch An, Cao Bằng.
  • Công trình chứng minh Lượn Hai là bức tranh sống động phản ánh đời sống lao động, thế giới quan thần thoại và tinh thần nhân văn cao đẹp của người Tày.
  • Đóng góp nguồn tư liệu điền dã quý giá với 100 khúc hát nguyên bản, góp phần bảo tồn hơn 80% vốn từ vựng và tri thức dân gian bản địa.
  • Đề xuất lộ trình 4 bước khả thi nhằm số hóa, truyền dạy và phát triển du lịch di sản trong giai đoạn 2026 - 2030.
  • Nghiên cứu là tài liệu tham khảo thiết thực cho các nhà khoa học, nhà quản lý văn hóa và cộng đồng trong việc chung tay gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.