Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh siêu âm viêm túi mật tại Bệnh viện E năm 2016

Luận văn thạc sĩ phân tích đặc điểm lâm sàng và hình ảnh siêu âm viêm túi mật tại bệnh viện E năm 2016, cung cấp thông tin giá trị cho nghiên cứu.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y Đa Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

62
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giải phẫu túi mật

1.2. Động mạch túi mật

1.3. Thần kinh

1.4. Mô học và chức năng sinh lý túi mật

1.5. Đại cương về bệnh VTM

1.5.1. Quá trình tạo sỏi TM

1.5.2. Nguyên nhân và bệnh sinh của VTM

1.5.3. GPB học của VTM

1.5.4. Các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của VTM

1.5.4.1. Viêm túi mật cấp
1.5.4.2. VTMC không do sỏi
1.5.4.3. VTMC khí thũng

1.5.5. Viêm túi mật mạn tính

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Tiêu chuẩn chẩn đoán VTM

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Thiết kế nghiên cứu

2.5.2. Các biến số nghiên cứu

2.5.3. Phương pháp thu thập thông tin

2.5.4. Sai số và xử lý sai số

2.5.5. Xử lý và phân tích số liệu

2.5.6. Thời gian nghiên cứu

2.5.7. Đạo đức nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Chỉ số BMI

4.3. Đặc điểm bệnh lý

4.4. Đặc điểm lâm sàng

4.5. Đặc điểm số lượng bạch cầu

4.6. Đặc điểm hình ảnh siêu âm

4.6.1. Dày thành TM

4.6.2. TM to, bùn TM và dấu hiệu Sono-Murphy

4.6.3. Dịch quanh TM và thâm nhiễm quanh TM

4.7. Vai trò của siêu âm trong chẩn đoán VTM

4.7.1. Trong chẩn đoán sỏi TM

4.7.2. Trong chẩn đoán dày thành TM

4.7.3. Trong chẩn đoán biến chứng của VTM

4.7.4. Giá trị chẩn đoán của VTM của siêu âm so với kết quả GPB

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu lâm sàng viêm túi mật tại Bệnh viện E

Nghiên cứu lâm sàng về viêm túi mật (VTM) tại Bệnh viện E năm 2016 đã chỉ ra những đặc điểm quan trọng trong chẩn đoán và điều trị bệnh lý này. VTM là một trong những bệnh lý phổ biến trong ngoại khoa, thường gặp ở bệnh nhân có sỏi mật. Nghiên cứu này nhằm mục đích mô tả các triệu chứng lâm sàng và hình ảnh siêu âm của bệnh nhân VTM, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho việc chẩn đoán và điều trị.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của viêm túi mật

Viêm túi mật thường biểu hiện qua các triệu chứng như đau bụng hạ sườn phải, nôn, và sốt. Các triệu chứng này có thể khác nhau tùy thuộc vào từng bệnh nhân. Nghiên cứu cho thấy rằng có tới 90% trường hợp VTM là do sỏi, và triệu chứng đau bụng thường xuất hiện sau bữa ăn nhiều chất béo.

1.2. Vai trò của siêu âm trong chẩn đoán VTM

Siêu âm là phương pháp chẩn đoán hình ảnh chính trong việc xác định VTM. Kỹ thuật này cho phép phát hiện sỏi trong túi mật, dày thành túi mật và các biến chứng khác. Độ nhạy và độ đặc hiệu của siêu âm trong chẩn đoán VTM rất cao, giúp bác sĩ đưa ra quyết định điều trị kịp thời.

II. Thách thức trong chẩn đoán viêm túi mật tại Bệnh viện E

Mặc dù siêu âm là phương pháp chính trong chẩn đoán viêm túi mật, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc xác định chính xác tình trạng bệnh. Một số bệnh nhân có triệu chứng không điển hình, dẫn đến việc chẩn đoán sai hoặc chậm trễ. Điều này có thể gây ra biến chứng nghiêm trọng cho bệnh nhân.

2.1. Các triệu chứng không điển hình của VTM

Nhiều bệnh nhân có thể không biểu hiện triệu chứng điển hình như đau bụng hoặc sốt, đặc biệt là ở người cao tuổi hoặc những người có bệnh lý nền. Điều này làm cho việc chẩn đoán trở nên khó khăn hơn.

2.2. Khó khăn trong việc phân loại VTM

Viêm túi mật có thể được phân loại thành VTM cấp và mạn tính, nhưng việc phân loại này không phải lúc nào cũng rõ ràng. Một số bệnh nhân có thể chuyển từ VTM mạn tính sang cấp tính mà không có dấu hiệu rõ ràng, gây khó khăn cho bác sĩ trong việc điều trị.

III. Phương pháp nghiên cứu lâm sàng viêm túi mật tại Bệnh viện E

Nghiên cứu được thực hiện bằng cách thu thập dữ liệu từ bệnh nhân được chẩn đoán VTM tại Bệnh viện E trong năm 2016. Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc sử dụng siêu âm và các xét nghiệm lâm sàng để đánh giá tình trạng bệnh nhân.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp hồi cứu, với đối tượng là bệnh nhân được chẩn đoán VTM. Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng rõ ràng và đã thực hiện siêu âm.

3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án và kết quả siêu âm. Các thông số lâm sàng như triệu chứng, chỉ số bạch cầu và hình ảnh siêu âm được ghi nhận và phân tích để đưa ra kết luận.

IV. Kết quả nghiên cứu về viêm túi mật tại Bệnh viện E

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hầu hết bệnh nhân VTM có triệu chứng điển hình và hình ảnh siêu âm phù hợp với chẩn đoán. Tỷ lệ phát hiện sỏi túi mật qua siêu âm đạt mức cao, cho thấy vai trò quan trọng của phương pháp này trong chẩn đoán.

4.1. Đặc điểm hình ảnh siêu âm trong VTM

Hình ảnh siêu âm cho thấy túi mật có thể dày thành, có sỏi và dịch quanh túi mật. Những đặc điểm này giúp bác sĩ xác định chính xác tình trạng bệnh và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

4.2. Tỷ lệ thành công trong điều trị VTM

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ thành công trong điều trị VTM tại Bệnh viện E là cao, với nhiều bệnh nhân hồi phục tốt sau khi được điều trị kịp thời. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc chẩn đoán sớm và chính xác.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu viêm túi mật

Nghiên cứu về viêm túi mật tại Bệnh viện E năm 2016 đã cung cấp nhiều thông tin quý giá về đặc điểm lâm sàng và hình ảnh siêu âm của bệnh. Kết quả cho thấy siêu âm là phương pháp hiệu quả trong chẩn đoán VTM, nhưng vẫn cần cải thiện trong việc phát hiện các trường hợp không điển hình.

5.1. Tương lai của nghiên cứu VTM

Trong tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định rõ hơn về vai trò của siêu âm trong chẩn đoán VTM, cũng như phát triển các phương pháp mới để nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán.

5.2. Đề xuất cải tiến trong chẩn đoán và điều trị

Cần có các chương trình đào tạo cho bác sĩ về chẩn đoán VTM, đặc biệt là trong việc nhận diện các triệu chứng không điển hình. Điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Giải phẫu túi mật 1. Túi mật Túi mật là một túi lưu trữ dịch mật trước khi đổ dịch mật xuống tá tràng.Túi mật hình quả lê, nằm ép sát vào mặt dưới của gan phải, trong hố TM (giường TM). TM dài khoảng 8-10 cm, chỗ rộng nhất từ 3-4 cm, thể tích trung bình 30-40ml có thể chứa tối đa 50ml.

TM gồm có 3 phần: đáy, thân và cổ [4,18,26]. Đáy TM nhô ra ở phía trước, ngay chỗ khuyết của bờ dưới gan (khuyết TM). Đối chiếu ra thành bụng, đáy TM tương ứng vị trí bờ ngoài cơ thẳng to gặp bờ dưới sườn phải của gan (điểm TM). Niêm mạc túi mật có nhiều nếp để TM có thể căng và giãn to, nếp giới hạn thành nhiều hố con.

Sỏi được tạo nên ở trong nếp và hay nằm lại trong các hố TM [4,9,19,23]. Thân TM chạy chếch từ trên xuống dưới, ra sau và sang trái. Thân TM dính vào gan ở giường TM, có nhiều tĩnh mạch cửa phụ chạy qua. Phúc mạc gan che phủ TM ở mặt dưới [4,19,23].

Cổ TM có đầu trên nối với thân và tạo một góc với thân ra trước, đầu dưới nối với ống cổ túi mật và gập góc ra sau. Cổ TM phình ở giữa tạo thành một bể con (bể Hartmann) đây là nơi sỏi hay mắc kẹt lại. Hai đầu cổ TM hẹp, phía trên có một hạch bạch huyết nằm (hạch Mascagni), đây là một mốc giúp xác định cổ TM trong phẫu thuật [19,23]. Ống túi mật Ống TM là ống dẫn đi từ TM đến ống mật chủ, dài từ 3-5cm, đường kính ở đầu khoảng 2,5mm và ở cuối khoảng 4-5mm.

Ống TM chạy chếch xuống dưới, sang trái và hơi ra sau rất gần ống gan. Ở phía dưới khi tới ống gan chung thì chạy sát nhau một đoạn khoảng 2-3mm rồi tiếp nối ở bờ phải của ống gan chung, phía bờ trên của tá tràng tạo thành ống mật chủ. Trong lòng ống TM có những nếp niêm mạc mỏng tạo thành van xoắn ốc (van Heister) giúp cho mật chảy xuống dễ dàng. Những bất thường của ống TM có thể gây khó khăn cho phẫu thuật viên khi và thường là nguồn gốc của những tai biến trong phẫu thuật cắt TM [19,23].

2 VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giải phẫu túi mật [2] 1. Mạch máu túi mật Túi mật được cấp máu bởi động mạch TM, một nhánh của động mạch gan riêng, kích thước rất thay đổi, ngắn hoặc dài: khi ngắn thường tách từ ngành phải của động mạch gan, ngay trong rốn gan. Động mạch đi từ dưới lên, sang phải, ra trước, chia nhánh cho TM và ống cổ TM.

Máu tĩnh mạch từ TM trở về theo hai đường: qua các nhánh tĩnh mạch nhỏ đổ thẳng về gan ở giường TM và qua tĩnh mạch TM đổ về tĩnh mạch cửa phải [4,19,23]. Bạch huyết đổ về các hạch nằm dọc tĩnh mạch cửa hoặc đổ về gan. 3 VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thần kinh Chi phối TM là các nhánh thần kinh xuất phát từ các đám rối tạng, đi dọc theo động mạch gan, trong đó có nhánh vận động xuất phát từ dây thần kinh X [4,19,23].

Mô học và chức năng sinh lý túi mật 1. Mô học TM là tạng rỗng tích trữ mật giữa các bữa ăn khi cơ Oddi đóng kín. Bổ đôi TM thấy: mặt trong có những chỗ hõm xuống tạo thành hốc, thành túi (túi Luschka). Ở hai đầu của vùng cổ TM có 2 nếp niêm mạc nổi gồ lên, trông như hai cái van.

Vùng ống cổ TM thấy các nếp niêm mạc gấp lại tạo thành những van xoắn (van Heister) có tác dụng điều chỉnh lượng tiết mật. Thành túi mật dày 2mm từ ngoài vào trong gồm 4 lớp: thanh mạc, tổ chức liên kết và cơ trơn, tổ chức đệm và lớp niêm mạc [19]. Chức năng sinh lý túi mật Túi mật tham gia quá trình tiêu hóa thông qua hoạt động bài tiết dịch mật và điều hòa áp lực đường mật. Các chức năng của TM như sau: - Dự trữ và cô đặc dịch mật: là chức năng chủ yếu, đảm bảo cho áp lực đường mật không bị tăng lên.

Niêm mạc TM hấp thu chủ yếu nước và một số muối vô cơ như Na+, Cl-, K+, Ca++ khiến dịch mật có đậm độ cao gấp 10 lần so với dịch mật trong gan. - Bài tiết dịch mật: dịch mật được bài tiết khoảng 20ml/24h do những tuyến nhỏ vùng cổ bài tiết ra, có vai trò bảo vệ niêm mạc túi mật và làm cho dịch mật qua cổ một cách dễ dàng. - Chức năng vận động: trong bữa ăn, TM co bóp đẩy phần lớn dịch mật vào ống mật chủ và xuống tá tràng ngay từ những phút đầu của quá trình tiêu hóa. Sự vận động này thường phối hợp nhịp nhàng với sự mở cơ Oddi.

Chức năng này được thực hiện nhờ sự kích thích của dây thần kinh X và chất cholecystokinin. Khi thức ăn không còn đi qua môn vị, nhu động tá tràng giảm, cơ Oddi tăng trương lực đóng lại, dịch mật từ trong gan chảy vào TM [28]. Đại cương về bệnh VTM 1. Quá trình tạo sỏi TM 4 VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dịch mật được cấu tạo bởi nhiều yếu tố: cholesterol, muối mật, sắc tố mật, protein, chất béo, nước và các chất điện giải như Na+, Cl-, K+, Ca++, bình thường các chất này cân bằng với nhau và hòa tan trong dịch mật.

Do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khác nhau các thành phần này lắng đọng, kết tủa và tạo thành sỏi. Một số nguyên nhân hình thành sỏi túi mật như sau: Do nhiễm trùng: nhiễm trùng gây viêm thành TM và ống TM. Niêm mạc TM hấp thu các acid mật và làm giảm sự hòa tan cholesterol. Các tế bào viêm, phù nề, hoại tử lan tỏa vào dịch mật cùng với sự lắng đọng các muối vô cơ tạo thành kết tủa và hình thành sỏi.

Do ứ đọng: khi ống TM chít hẹp sẽ gây hiện tượng tăng sự hấp thu nước và muối mật ở thành TM làm cô đọng cholesterol và sắc tố mật trong dịch mật từ đó hình thành sỏi. Quá bão hòa cholesterol trong dịch mật là điều kiện tiên quyết để hình thành sỏi, vì các phân tử cholesterol dư thừa sẽ có xu hướng tích tụ lại tạo các tinh thể cholesterol. Các tinh thể nhỏ cholesterol này lại tích tụ và lớn dần tạo thành sỏi cholesterol. Thường gặp ở những bệnh nhân béo phì, phụ nữ mang thai, thiểu năng giáp trạng.

Sỏi Cholesterol được hình thành từ các muối mật dạng kết hợp lecithin với hợp chất đa phân tử hoặc các túi hòa tan cholesterol trong dịch mật. Quá trình này có thể dẫn tới hình thành các tinh thể nhỏ cholesterol hoặc cản trở quá trình làm rỗng túi mật [3,6,10,12]. Ở Mỹ tỷ lệ sỏi cholesterol chiếm tới 75% các trường hợp sỏi mật, còn lại là sỏi sắc tố. Ở các nước châu Á nói chung, Việt Nam và Nhật Bản nói riêng sỏi sắc tố chiếm 60%.

Sỏi sắc tố có hai loại đen và nâu, được hình thành bởi sự kết hợp và lắng đọng các muối bilirubin, các acid mật và các chất không xác định khác [39]. Sỏi sắc tố đen chủ yếu được cấu tạo từ một đa phân của calci bilirubinat, được hình thành khi bilirubin tự do trong dịch mật gia tăng, thường gặp trong bệnh cảnh xơ gan và tan máu [10]. Sỏi sắc tố nâu được cấu tạo chủ yếu bởi calci bilirubin đơn phân. Nó được tạo thành do sự thủy phân bilirubin liên hợp bởi men glucuronidase của vi khuẩn.

Sau đó được gắn kết với calci trong dịch mật tạo nên kết tủa calci bilirubin. Sỏi sắc tố nâu hay gặp trong các bệnh lý nhiễm trung đường mật và giun chui ống mật [3,6,10,12]. Nguyên nhân và bệnh sinh của VTM 5 VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Viêm túi mật xảy ra khi túi mật bị xâm nhập bởi các tế bào viêm và vi khuẩn. Nguyên nhân gây viêm túi mật là do những khối u xung quanh hoặc u đường mật nhưng nguyên nhân hàng đầu được biết đến là sỏi TM.

Có rất nhiều yếu tố nguy cơ hình thành sỏi TM, và đã được nhiều nghiên cứu chứng minh. Các yếu tố đó bao gồm: nữ giới, tuổi cao, có thai, sử dụng thuốc tránh thai đường uống, béo phì, mắc bệnh tiểu đường, chủng tộc và tụt cân nhanh [28]. Sỏi TM gây tắc nghẽn dòng chảy dịch mật và chiếm tới 90% các nguyên nhân gây VTM. Sự tắc nghẽn dịch mật dẫn tới thành túi mật dày, túi mật đỏ và căng to.

Túi mật trở thành nơi xâm nhập của các vi khuẩn và gây ra phản ứng viêm, những vi khuẩn thường gặp là E.Coli, Klebsilea, Steptococcus và loài Clostridium. Sự nhiễm khuẩn có thể lan rộng ra các tạng xung quanh túi mật và các cấu trúc lân cận như cơ hoành [28]. Ở những bệnh nhân viêm túi mật không do sỏi chiếm 5-10% các trường hợp VTM. Hay gặp trên các bệnh nhân có bệnh cảnh lâm sàng nặng nề, nằm trong các đơn vị chăm sóc tích cực.

Các nguyên nhân có thể gây nên ra bao gồm: sau chấn thương lớn, bỏng, điều trị hóa chất, viêm mạch máu [28]. Viêm túi mật mạn tính xảy ra trên những bệnh nhân có tiền sử viêm túi mật cấp do sỏi. VTM mạn tính có thể không có triệu chứng hoặc có thể tiến triển thành viêm túi mật cấp [28]. GPB học của VTM Trong VTMC do sỏi, hình ảnh đại thể TM thường giãn căng, thành dày, phù nề, xung huyết và chảy máu, có thể xuất hiện các mảng lốm đốm, gồ ghề với những vùng đỏ fibrin trên bề mặt.

Niêm mạc TM thay đổi từ phù, xung huyết tới loét lan rộng và hoại tử [34,40]. Trên các tiêu bản vi thể, có sự thâm nhập các tế bào bạch cầu đa nhân trung tính và sự hoại tử tổ chức. Các áp xe nhỏ và viêm mạch thứ phát có thế xuất hiện trong vách TM. Khi bệnh tiến triển các lympho bào, tế bào plasma, đại thực bào và các bạch cầu ưa eosin xuất hiện.

Mô hạt và sự lắng đọng collagen thay thế sau khi mô loét hoặc hoại tử [42]. Đối với các trường hợp VTM hoại tử, thành TM lốm đốm đen, phản ứng tế bào không rầm rộ, ngoại trừ ở lớp thanh mạc, có huyết khối trong lòng mạch. Sau một vài ngày, hình ảnh thay đổi thành TM dày, xám xịt, TM phù mọng đó là giai 6 VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đoạn bán cấp. Lúc này thành TM thường chứa nhiều bạch cầu ưa eosin, đại thực bào, nguyên bào xơ hình sao.

Đối với VTM mạn tính, thường thấy sỏi trong TM, thành TM dày, xơ hóa. TM có thể co lại và teo, thành xơ cứng, rắn chắc, có thể calci hóa và được biết đến là TM sứ. Niêm mạc thường bị phá hủy hoàn toàn hoặc có thể loét ở các vị trí có sỏi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ