ĐẶT VẤN ĐỀ Khi một loài động thực vật nào đó bị tuyệt chủng có thể do con ngƣời hoặc là tự nhiên, thì đó cũng là một dấu hiệu cho sự tổn thất về đa dạng của vùng đó nói riêng và thế giới nói chung. Vì vậy nhiệm vụ quan trọng để bảo tồn đƣợc đa dạng sinh học là việc ngăn ngừa sự tuyệt chủng của loài động thực vật. Nằm trong hệ thống khu bảo tồn và Vƣờn Quốc gia dày đặc của Việt Nam, hệ sinh thái rừng của Vƣờn Quốc gia Tam Đảo là một hệ sinh thái vô cùng phong phú và đa dạng, là tiêu biểu của hệ sinh thái rừng nhiệt đới. Có nhiều loài động thực vật quý hiếm và đặc hữu đƣợc tìm thấy ở đây, nhiều loài gỗ quý và đặc biết là những loài lâm sản ngoài gỗ có nhiều công dụng đặc biệt: nhƣ trong ngành thực phẩm, ngành dƣợc phẩm, ngành công nghiệp.
Đối tƣợng nghiên cứu là loài Tắc kè đá hay còn đƣợc gọi là cốt toái bổ, co tạng tó … có tên khoa học là Drynaria bonii H. Christ, 1910 thuộc chi Drynaria trong họ Dƣơng xỉ Polypodiaceae. Tắc kè đá là một loại lâm sản ngoài gỗ có nhiều giá trị trong ngành dƣợc phẩm, bộ phận đƣợc dùng là thân rễ có tác dụng chống viêm cấp ở mức trung bình, chữa phong thấp, đau lƣng, nhức xƣơng, đau răng, thần kinh suy nhƣợc, trẻ em cam tích (trích: cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam tập II). Do vậy những năm gần đây cây Tắc kè đá đang là đối tƣợng khai thác, kết hợp với nạn phá rừng, trực tiếp làm khu vực phân bố bị suy giảm nên trở nên hiếm dần.
Trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), Tắc kè đá đƣợc xếp vào cấp sẽ nguy cấp (VU). Chính vì vậy việc nghiên cứu những giải pháp bảo tồn và phát triển cây này là việc làm cần thiết để bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen và góp phần phát triển kinh thế - xã hội Việt Nam. Trong khuôn khổ chƣơng trình đào tạo Đại học, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài Tắc kè đá (Drynaria bonii H. Christ, 1910) tại Vƣờn Quốc gia Tam Đảo – Vĩnh phúc”.
Ngoài mục tiêu là khóa luận tốt nghiệp, đề tài còn nhằm cung cấp thêm thông tin khoa học về loài Tắc kè đá ở Vƣờn Quốc gia Tam Đảo, góp phần hiểu biết sâu hơn về loài Tắc kè đá để làm cơ sở đề suất những biện pháp bảo về, gây trồng và phát triển tại Vƣờn Quốc gia Tam Đảo. 1 ` PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Từ khi con ngƣời ra đời, loài ngƣời đã biết dựa vào rừng để sống. Không chỉ lấy ra từ rừng lƣơng thực, thực phẩm cho cuộc sống hàng ngày, con ngƣời còn biết lấy cây rừng làm rau ăn, nấu nƣớc uống, lấy cây rừng làm thuốc chữa bệnh.
Trải qua nhiều thế kỷ, các cộng đồng ngƣời trên khắp thế giới đã phát triển những phƣơng thuốc cổ truyền của họ, làm cho các loài cây thuốc và công dụng của chúng trở nên có ý nghĩa. Các kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thuốc chữa bệnh đƣợc nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia và cũng từ đó, mỗi châu lục, mỗi dân tộc hình thành nên một nền Y học cổ truyền mang nét đặc trƣng riêng. Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), 80% dân số thế giới sử dụng cây thuốc cho việc chăm sóc sức khỏe ban đầu. Theo Hội đồng quốc tế về nguồn tài nguyên di truyền thực vật (IBPGR, 1992) cho thấy các nƣớc đang phát triển, 70 – 80% dân số vùng nông thôn lấy cây thuốc là nguồn chữa bệnh.
Qua những số liệu trên cho thấy xã hội hiện nay mặc dù khoa học – công nghệ phát triển, nhƣng việc sử dụng cây thuốc và y học cổ truyền có vai trò vô cùng quan trọng. Ở các nƣớc Châu Á, nhất là các nƣớc châu Á nhiệt đới, do hệ thực vật phong phú và đa dạng nên chứa đựng một tiềm năng rất lớn về cây thuốc. Theo số liệu thống kê, thành phần cây làm thuốc thƣờng chiếm khoảng 10% số loài thực vật đƣợc biết ở các quốc gia. Tổng số loài thực vật làm thuốc trên thế giới tính khoảng 20.
Tác giả Guo-Chung Dong và cộng sự đã chế tạo vật liệu cấy ghép xƣơng từ dịch chiết thô của thân rễ Tắc kè đá (Drynaria bonii H. Để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khoẻ con ngƣời, cho sự phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết phải kết hợp giữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền của các dân tộc là 2 ` một vấn đề cấp thiết. Chính từ những kinh nghiệm của y học cổ truyền đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loại thuốc có ích trong tƣơng lai. Cho nên, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng.
Các nƣớc trên thế giới đang hƣớng về thực hiện chƣơng trình Quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc. Tại Việt Nam Việt Nam có nền Y học cổ truyền giàu truyền thống, phong phú về các cây thuốc, bài thuốc và vị thuốc. Cùng với 4000 năm dựng nƣớc và giữ nƣớc, ngƣời Việt Nam đã phải đấu tranh với thiên nhiên, bệnh tật và chiến tranh, dần dần đã tích luỹ đƣợc kinh nghiệm và tri thức trong sử dụng cây thuốc. Nền Y học cổ truyền qua hàng nghìn năm Bắc thuộc nên chịu ảnh hƣởng rất lớn của Y học cổ truyền Trung Quốc.
Có rất nhiều công trình về cây thuốc ở Việt Nam với quy mô lớn nhỏ khác nhau đã đƣợc công bố nhƣ: Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chƣơng và cộng sự đã cho ra đời cuốn “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” (1993) với khoảng 300 loài cây thuốc đƣợc khai thác và sử dụng ở các mức độ khác nhau trong toàn quốc. Nhóm tác giả của Viện Dƣợc liệu (2003) đã tiến hành biên soạn bộ sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” với hơn 1. 000 loài, trong đó 920 cây thuốc và 80 loài động vật đƣợc sử dụng làm thuốc. Các nhà nghiên cứu của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã thu thập, nghiên cứu và công bố một số tài liệu liên quan tới cây thuốc: Đáng chú ý là hai tập sách “Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam” của tác giả Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001; 2002) các tác giả đã đề cập đến giá trị sử dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật có tinh dầu ở Việt Nam.
Công trình nghiên cứu hợp chất Tecpenoid và Anthraquinon từ thân rễ cây Tắc kè đá (Drynaria bonii H. Christ) họ Dƣơng xỉ (Polypodiaceae), của tác giả: Phạm Thị Nhật Trinh, Lê Tiến Dũng, Nguyễn Công Háo, Phan Thanh Thảo của trƣờng Đại Học Tiền Giang (2012). Tuy nhiên, theo thống kê chủ yếu những công trình nghiên cứu chỉ là nghiên cứu về tính chất và công dụng của hợp chất 3 ` có trong Tắc kè đá. Các tecpenoid có chứa nhiều trong thực vật nhƣ secpuiterpen, diterpen và triterpen có chứa trong tinh dầu, nhựa của thực vật bậc cao, polyterpen là thành phần chính của các cao su tự nhiên.
Chính vì do dặc điểm cấu tạo của chúng nên các terpenoid có tác dụng làm thông mạch và làm tăng độ đàn hồi của cơ tim và thành mạch. Hợp chất tecpenoid cò đƣợc sử dụng nhiều trong ngành công nghiệp, thực phẩm, dƣợc phẩm Chất anthraquinon còn đƣợc ứng dụng trong: ngành công nghiệp (thuốc nhuộm tiền thân, phân hủy chất phụ gia trong sản suất giấy, hay sản xuất hydrogen peroxide), trong ngành y học. Nghiên cứu ảnh hƣởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của Cốt toái bổ năm 2004 của sinh viên Phạm Thị Hằng trƣờng Đại Học Dƣợc Hà Nội. Nhƣ vậy, theo thống kê thì những nghiên cứu đặc tính lâm học của loài Tắc kè đá chỉ dùng lại ở mức độ nhỏ lẻ, chủ yếu những nghiên cứu về công dụng của Tắc kè đá trong ngành y học, dƣợc phẩm, công nghiệp… điều này càng làm cho cây Tắc kè đá là đối tƣợng bị khai thác nhiều nhƣng lại có ít những công trình nghiên cứu để bảo tồn loài song song với phá rừng làm mất đi nơi sống, dẫn tới nguy cơ trữ lƣợng của loài ngày càng suy giảm.
Một số thông tin về loài Tắc kè đá Theo Đông y, thân rễ Tắc kè đá (Drynaria bonii H. Christ) có vị đắng, tính ấm, có tác dụng bổ thận, mạnh gân xƣơng, hành huyết, phá huyết ứ, cầm máu, khu phong thấp, sát trùng, giảm đau nhức xƣơng khớp. Đƣợc dùng để dự phòng và điều trị loãng xƣơng, đau xƣơng, đau lƣng, mỏi gối, khớp sƣng đau, ngã chấn thƣơng, bong gân, tụ máu, sai khớp, gãy xƣơng, thận hƣ (suy giảm chức năng nội tiết), chảy máu chân răng, ù tai. Theo tài liệu Sách Đỏ Việt Nam Tắc kè đá - DRYNARIA BONII H.
Christ Tên khác: Co tạng tó, Cốt toái bổ. Họ Dƣơng xỉ - Polypodiaceae 4 ` Đặc điểm nhận dạng: Dƣơng xỉ phụ sinh trên đá hoặc thân cây gỗ lớn. Thân rễ hơi dẹt, phân nhánh, mọng nƣớc; phủ đầy lông màu nâu và nâu đen. Có hai loại lá: Lá hứng mùn màu nâu, bất thụ, không cuống, hình xoan, gốc tròn, mép lƣợn sóng hoặc xẻ thùy nông, 5-8 x 3-5cm.
Lá hữu thụ màu xanh, có cuống xẻ thùy lông chim, cỡ 25-20 x 7-15 cm; mặt dƣới mang nhiều túi bào tử, xếp đầu nhau hai bên gân lá phụ; bào tử tròn, màu vàng nâu. Sinh học và sinh thái: Mùa có bào tử tháng 5-8. Nhân giống tự nhiên bằng bào tử. Thân rễ bị đứt đoạn, nếu vẫn bám đƣợc trên giá thể vẫn có khả năng tái sinh.
Sinh trƣởng rất chậm. Cây ƣa ẩm, chịu bóng, chỉ sống theo kiểu phụ sinh trên đá hay trên thân cay gỗ dƣới tán rừng kín thƣờng xanh và rừng núi đá vôi ẩm, ở độ cao tới 1000m. Phân bố: Trong nước: Sơn La, Cao Băng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Tây, Hòa Bình, Ninh Bình, Hà Tĩnh, Bình Định (Vĩnh Thạch) ; Thế giới: Trung Quốc, Lào. Giá trị: Thân rễ đƣợc sử dụng nhiều trong y học cổ truyền, làm thuốc chữa đau nhức xƣơng khớp, bệnh về thận, bó gãy xƣơng (Thân rễ tƣơi).
Tình trạng: Mặc dù có phạm vi phân bố tƣơng đối rộng, song thƣờng xuyên bị khái thác từ nhiều chục năm trở lại đây. Thêm vào đó là nạn phá rừng, trực tiếp làm thu hẹp phân bố; trữ lƣợng tự nhiên giảm sút nhanh chóng. Hiện đã trở nên hiếm dần.