Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngành Công nghệ Sinh học, mã số 9420201, với đề tài "Nghiên cứu tạo laccase tái tổ hợp và thử nghiệm khả năng khử màu một số thuốc nhuộm công nghiệp", do nghiên cứu sinh Đặng Thị Thanh Hà thực hiện tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Thị Ngọc Lan và TS. Nguyễn Đức Huy, hoàn thành vào năm 2022.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nước thải từ các ngành công nghiệp dệt may, giấy, thuộc da và hóa chất chứa hàm lượng lớn thuốc nhuộm tổng hợp cùng các hợp chất hữu cơ vòng thơm khó phân hủy như phenol, polyphenol, hợp chất polycyclic aromatic hydrocarbon (PAH) và amine vòng. Các hợp chất này gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng, cản trở sự thâm nhập của ánh sáng và dưỡng khí, gây độc cho hệ thủy sinh và tích lũy qua chuỗi thức ăn gây nguy hại cho sức khỏe con người. Các phương pháp xử lý hóa lý (như hấp phụ, keo tụ, oxy hóa nâng cao Fenton, quang hóa) thường phát sinh bùn thải, tiêu tốn hóa chất hoặc tạo ô nhiễm thứ cấp; trong khi phương pháp sinh học vi sinh vật trực tiếp đòi hỏi điều kiện thích nghi nghiêm ngặt và dễ bị ức chế bởi độc tính của thuốc nhuộm nồng độ cao.
Sử dụng enzyme ngoại bào, đặc biệt là nhóm oxidoreductase như laccase (EC 1.10.3.2), mang lại giải pháp sinh học có tính chọn lọc cao. Laccase là enzyme polyphenol oxidase chứa đồng, có khả năng oxy hóa nhiều cơ chất vòng thơm, chỉ sử dụng oxy phân tử làm chất nhận điện tử và tạo ra sản phẩm phụ duy nhất là nước. Tuy nhiên, việc thu nhận laccase tự nhiên từ các chủng nấm hoang dại thường gặp hạn chế do thời gian nuôi cấy kéo dài, năng suất sinh tổng hợp thấp và hỗn hợp dịch tiết chứa nhiều tạp chất protein. Phần lớn các công trình trên thế giới và tại Việt Nam tập trung vào laccase từ nấm mục trắng thuộc ngành Basidiomycota (như Trametes versicolor, Pleurotus ostreatus, Pycnoporus sanguineus). Việc phân lập các chủng nấm sợi thuộc ngành Ascomycota bản địa, đặc biệt là loài Fusarium oxysporum, nhằm khai thác các gen mã hóa laccase và biểu hiện dị chủng trong nấm men Pichia pastoris để nâng cao hiệu suất thu nhận enzyme tái tổ hợp phục vụ xử lý màu thuốc nhuộm công nghiệp là khoảng trống khoa học được luận án lựa chọn giải quyết.
Mục tiêu nghiên cứu
Tác giả xác định hai nhóm mục tiêu cụ thể gồm:
- Mục tiêu lý thuyết:
- (1) Tuyển chọn được chủng vi sinh vật mới có khả năng phân giải laccase mạnh.
- (2) Nghiên cứu biểu hiện laccase của Fusarium oxysporum trong Pichia pastoris nhằm nâng cao hiệu suất sinh tổng hợp.
- (3) Phân hủy thành công một số thuốc nhuộm tổng hợp bằng laccase tái tổ hợp.
- Mục tiêu thực nghiệm: Tạo được laccase tái tổ hợp để phân giải các hợp chất hữu cơ khó phân hủy gây ô nhiễm môi trường.
Nhiệm vụ của đề tài được triển khai qua 5 nội dung chính:
- Tuyển chọn chủng nấm sinh tổng hợp laccase.
- Tạo dòng gen laccase vào hệ thống vector biểu hiện cho P. pastoris.
- Sinh tổng hợp laccase trong P. pastoris.
- Tinh sạch và xác định đặc tính laccase tái tổ hợp.
- Khảo sát khả năng phân hủy các hợp chất màu hữu cơ (khó phân hủy) của laccase tái tổ hợp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các chủng nấm mốc hoại sinh phân lập từ xác bã thực vật và đất tiếp giáp thân gỗ mục; hệ thống biểu hiện dị chủng nấm men Pichia pastoris mang vector pPICZαA; các gen mã hóa laccase phân lập từ Fusarium oxysporum; chế phẩm enzyme laccase tự nhiên và laccase tái tổ hợp rFolac1; các loại thuốc nhuộm tổng hợp công nghiệp (như Malachite green, Congo red, Methyl orange, Remazol Brilliant Blue R, Bromothymol blue, Methylene blue, Aniline blue, Evans blue, Indigo carmine, Orange II).
- Phạm vi không gian: Thu thập mẫu nấm mốc thực địa tại các công viên và khu vực di tích lăng Khải Định trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Các thí nghiệm phân lập, tạo dòng, biểu hiện và phân tích hoạt tính thực hiện tại Phòng thí nghiệm Công nghệ Enzyme và Protein (Viện Công nghệ sinh học, Đại học Huế) và Khoa Sinh học (Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế), có sự hỗ trợ phân tích chuyên sâu từ Đại học Quốc gia Chonbuk, Hàn Quốc.
- Phạm vi thời gian: Thu nhận mẫu thực vật vào mùa mưa (giai đoạn sợi nấm hoại sinh phát triển sinh khối mạnh); các dữ liệu thực nghiệm được hoàn thiện và bảo vệ vào năm 2022.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu laccase và xử lý thuốc nhuộm trong y văn
Trong phần tổng quan tài liệu, tác giả hệ thống hóa lịch sử phát hiện và nghiên cứu laccase qua các mốc thời gian:
- Yoshida (1883) lần đầu mô tả laccase khi tách chiết từ dịch tiết cây sơn mài Nhật Bản (Rhus vernicifera).
- Gabriel Bertrand (1893) tiếp tục phân lập enzyme này từ Rhus succedanea và các loài thực vật khác thuộc họ Anacardiaceae (Mangifera indica, Schinus molle, Pistacia palaestina, Pleiogynium timoriense).
- Bertrand và Laborde (1896) ghi nhận sự hiện diện của laccase ở nấm.
- Cấu trúc trung tâm xúc tác của laccase được Sergio (2006) mô hình hóa, chỉ rõ sự tham gia của 4 nguyên tử đồng thuộc 3 loại (T1, T2, T3) và cầu tripeptide His-Cys-His trong chu trình truyền điện tử.
- Farnet và cs. (2008) phát hiện việc ủ laccase từ Pleurotus ostreatus ở 40°C và 50°C giúp gia tăng hoạt tính enzyme đáng kể.
- Chhaya và cs. (2019) gây đột biến chủng Fusarium incarnatum LD-3 bằng tia cực tím (UV) và hóa chất ethyl methane sulfonate (EMS), kết hợp cơ chất rơm lúa mì và cám gạo giúp tăng năng suất sinh tổng hợp laccase từ 2 đến 3 lần so với chủng hoang dại.
- Về nguồn vi khuẩn, Guan và cs. (2018) tổng hợp các nghiên cứu về laccase nội bào hoặc periplasm ở Streptomyces coelicolor, Bacillus halodurans. Li và cs. (2014) khảo sát nấm ven biển châu thổ sông Châu (Trung Quốc), thu được chủng PKU F16 (Cladosporium sp.) và PKU F18 (Ascomycota sp.) đạt hoạt độ laccase 14,6 U/mL và 10,5 U/mL trên cơ chất ABTS sau 6 ngày nuôi cấy.
- Hernández-Monjaraz và cs. (2018) nghiên cứu đột biến gen rho1 ở Fusarium oxysporum, ghi nhận ion Fe2+ làm tăng hoạt tính laccase nội bào trong khi Cu2+ ở nồng độ cao ức chế hoạt tính laccase ngoại bào.
- Về biểu hiện tái tổ hợp và phân hủy chất màu: Lu và cs. (2009) biểu hiện laccase của Pycnoporus sanguineus trong P. pastoris SMD1168H khử màu hiệu quả 4 nhóm thuốc nhuộm azo, anthraquinone, triphenylmethane và indigo; Huy và cs. (2021) biểu hiện rFoLacc5 từ F. oxysporum HUIB05 trong P. pastoris khử màu 8 loại thuốc nhuộm tổng hợp; Siqi Liu và cs. (2020) biểu hiện gen lac của Aspergillus sp. trong P. pastoris khử 45,5% phẩm màu Congo red; Ahmet Tülek và cs. (2020) biểu hiện laccase MmLac từ Madurella mycetomatis trong P. pastoris ứng dụng tẩy trắng và dệt nhuộm; Yitong Jia và cs. (2022) biểu hiện rLac1 từ Trametes hirsuta MX2 trong P. pastoris khử màu Remazol Brilliant Blue R đạt 92,57% không cần chất trung gian và 99,2% khi có mặt ABTS.
- Về xử lý các hợp chất hữu cơ độc hại: Margot và cs. (2013) dùng laccase T. versicolor phân hủy axit mefenamic (95%) và diclofenac (25%); Kadri và cs. (2017) dùng laccase từ nấm Dacryopinax elegans phân hủy chất diuron trong điều kiện có muối NaCl; Wenting Zhou và cs. (2021) cố định laccase loại bỏ 99% Bisphenol A và 100% Indigo carmine.
- Tại Việt Nam, tác giả dẫn công trình của các tác giả trong nước về chủng nấm sợi Trichoderma sp. FCP3 phân lập từ Vườn Quốc gia Cúc Phương có khả năng sinh laccase thô khử màu các thuốc nhuộm NY3 (92%), RBBR (86%), NY5 (64%), NY1 (60%), NY7 (6%).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù laccase từ nấm đảm đã được nghiên cứu đa dạng, các nghiên cứu về hệ gen laccase từ nấm sợi Fusarium oxysporum tại Việt Nam còn thiếu vắng. Đặc biệt, việc tách dòng đồng thời 4 gen mã hóa laccase (Folac1, Folac2, Folac3, Folac4) từ một chủng nấm bản địa và tiến hành biểu hiện tái tổ hợp thành công gen Folac1 từ cDNA trong hệ thống nấm men Pichia pastoris chưa từng được công bố trên thế giới trước thời điểm tác giả thực hiện luận án. Đề tài lấp đầy khoảng trống này bằng cách làm rõ đặc tính enzyme tái tổ hợp rFolac1 và kiểm chứng hiệu quả khử màu các nhóm thuốc nhuộm công nghiệp có và không có mặt chất trung gian (mediator).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án vận dụng các cơ sở lý thuyết hóa sinh và sinh học phân tử sau:
- Cấu trúc phân tử và cơ chế xúc tác của Laccase (EC 1.10.3.2): Là enzyme glycoprotein monomeric (khối lượng phân tử từ 60 đến 90 kDa, chứa 10–25% carbohydrate) mang 4 nguyên tử đồng xúc tác: một nguyên tử Cu T1 (hấp thụ cực đại ở 600 nm, tạo màu xanh lam đặc trưng), một nguyên tử Cu T2 và hai nguyên tử Cu T3. Quá trình oxy hóa diễn ra theo cơ chế chuyển electron đơn: cơ chất khử nhường 1 electron cho ion Cu2+ tại vị trí T1 biến thành gốc tự do; 4 electron từ 4 phân tử cơ chất được chuyển tiếp qua cầu nối bảo thủ His-Cys-His đến cụm 3 nguyên tử Cu T2/T3. Tại đây, một phân tử oxy nhận 4 electron và 4 proton để khử thành 2 phân tử H2O mà không tạo ra các gốc oxy hóa độc hại.
- Hệ thống chất trung gian (Laccase-Mediator System - LMS): Do các phân tử thuốc nhuộm hoặc cơ chất có cấu trúc cồng kềnh khó tiếp cận trung tâm hoạt động hoặc có thế oxy hóa khử cao hơn thế của laccase (thế laccase dao động 0,4–0,8 V), việc bổ sung các hợp chất trung gian như 2,2'-azino-bis(3-ethylbenzothiazoline-6-sulphonic acid) (ABTS), 1-hydroxybenzotriazole (HBT), N-hydroxyphtalimide (HPI), violuric acid (VLA) giúp laccase oxy hóa chất trung gian thành các gốc tự do có khả năng khuếch tán oxy hóa gián tiếp thuốc nhuộm.
- Hệ thống biểu hiện dị chủng Pichia pastoris: Sử dụng vector pPICZαA tích hợp promoter AOX1 (alcohol oxidase 1) cảm ứng bằng methanol, đoạn peptide tín hiệu α-factor giúp tiết protein tái tổ hợp trực tiếp ra môi trường ngoại bào, đuôi 6xHis phục vụ tinh sạch ái lực và gen kháng sinh Zeocin để sàng lọc thể biến nạp.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Luận án kết hợp các kỹ thuật vi sinh học, sinh hóa học và sinh học phân tử:
| Nhóm phương pháp |
Quy trình và kỹ thuật cụ thể |
Dụng cụ, thiết bị và hóa chất |
| Phân lập và sàng lọc chủng nấm |
Thu mẫu xác bã thực vật mục, pha loãng nồng độ $10^{-3}$ và $10^{-4}$, cấy gạt đĩa thạch PDA ở 30°C trong 3–4 ngày. Sàng lọc khả năng sinh laccase trên môi trường BSM bổ sung 0,01% guaiacol ở 30°C trong 2–4 ngày, quan sát quầng màu nâu đỏ. |
Môi trường PDA, môi trường thạch tối thiểu BSM, guaiacol 0,01%, đĩa petri, que gạt thủy tinh. |
| Khảo sát sinh tổng hợp laccase tự nhiên |
Nuôi cấy nấm trên 4 hệ môi trường chứa lignocellulose (hạt $\le 2\text{ mm}$): MF1 (BSM + 10% bột rơm bán rắn), MF2 (BSM + 10% bột gỗ bán rắn), MF3 (BSM + 5% bột gỗ lỏng), MF4 (BSM + 5% bột rơm lỏng). Lên men ở 30°C, 180 vòng/phút trong 18 ngày, lấy mẫu định kỳ 3 ngày/lần. |
Tủ ấm lắc, bình tam giác 250 mL, bột rơm, bột gỗ. |
| Đo hoạt độ enzyme laccase |
Đo phản ứng oxy hóa ABTS 1 mM trong đệm sodium acetate 100 mM (pH 4,5), ủ ở 40°C trong 10 phút, đo mật độ quang ở bước sóng 420 nm ($\varepsilon_{420} = 36,0\text{ mM}^{-1}/\text{cm}$). 1 đơn vị hoạt độ (U) tương đương lượng enzyme tạo $1\ \mu\text{mol}$ sản phẩm/phút. |
Máy quang phổ kế U-2910 Spectrophotometer (Hitachi, Nhật Bản), cơ chất ABTS, đệm sodium acetate. |
| Định lượng protein và khảo sát động học |
Định lượng protein ngoại bào bằng phương pháp Bradford tại bước sóng 595 nm dựa trên đường chuẩn Bovine Serum Albumin (BSA). Xác định thông số $K_m$ và $V_{\max}$ theo phương trình Lineweaver-Burk với nồng độ ABTS từ 1 mM đến 50 mM trong đệm acetate pH 4,5 ở 45°C. |
Thuốc thử Bradford 1X, BSA (Nacalai, Nhật Bản), máy quang phổ. |
| Đặc tính enzyme thô và tái tổ hợp |
Khảo sát ảnh hưởng của pH (dải pH 3, 4, 5, 6, 7, 8 trong đệm acetate), nhiệt độ (20°C, 25°C, 30°C, 35°C, 40°C, 45°C, 50°C) và ion kim loại ($5\text{ mM}$: $\text{Fe}^{2+}$, $\text{Cu}^{2+}$, $\text{Ca}^{2+}$, $\text{Mn}^{2+}$, $\text{Mg}^{2+}$, $\text{Zn}^{2+}$, $\text{Co}^{2+}$). |
Đệm acetate dải pH 3–8, tủ ổn nhiệt, muối ion kim loại. |
| Sinh học phân tử và tạo dòng gen |
Tách chiết DNA tổng số bằng đệm CTAB; khuếch đại đoạn gen ITS 1-4 giải trình tự định danh chủng nấm trên NCBI. Tách chiết RNA tổng số, phiên mã ngược tạo cDNA, khuếch đại 4 gen (Folac1 đến Folac4) bằng PCR, tạo dòng vào vector pGEM-T Easy và biến nạp tế bào khả biến E. coli. |
Hóa chất CTAB, enzyme Taq polymerase, cặp mồi ITS1/ITS4, vector pGEM-T Easy, tế bào khả biến E. coli. |
| Biểu hiện dị chủng và tinh sạch |
Tách dòng đoạn cFolac1 từ cDNA vào vector biểu hiện pPICZαA bằng enzyme cắt giới hạn EcoRI và XbaI, biến nạp điện vào nấm men P. pastoris. Tối ưu hóa điều kiện nuôi cấy biểu hiện; tinh sạch protein tái tổ hợp bằng đuôi ái lực 6xHis; kiểm tra bằng điện di SDS-PAGE. |
Cặp mồi AOX1F/AOX1R, enzyme cắt giới hạn EcoRI, XbaI, kháng sinh Zeocin, nấm men P. pastoris, hệ thống điện di SDS-PAGE. |
| Thử nghiệm khử màu thuốc nhuộm |
Đánh giá độ suy giảm màu của các thuốc nhuộm tổng hợp đơn lẻ và khi có mặt các chất môi giới (ABTS, HBT) ở các khoảng thời gian nhất định bằng máy đo quang phổ. |
Thuốc nhuộm azo, anthraquinone, triphenylmethane; chất trung gian ABTS, HBT. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này cung cấp hệ thống lý thuyết về enzyme laccase, bao gồm lịch sử phát hiện, cấu tạo phân tử, cơ chế xúc tác đa đồng và các yếu tố ảnh hưởng đến độ bền enzyme (pH, nhiệt độ, ion kim loại, chất ức chế như azide, cyanide, fluoride, EDTA). Tác giả so sánh các nguồn thu nhận laccase từ thực vật, vi khuẩn và nấm, phân tích các nghiên cứu về nấm đảm (Basidiomycota) và nấm túi (Ascomycota).
Chương 1 phân tích chi tiết hệ thống biểu hiện tế bào chủ Pichia pastoris, đánh giá ưu điểm vượt trội so với Saccharomyces cerevisiae và vi khuẩn nhờ sự điều hòa chặt chẽ của promoter AOX1, khả năng nuôi cấy mật độ tế bào cao trên 400 g/L, sự bài tiết protein ngoại bào giúp đơn giản hóa việc tinh sạch và khả năng biến đổi hậu dịch mã (tạo liên kết disulfide, glycosyl hóa). Các yếu tố ảnh hưởng đến biểu hiện protein tái tổ hợp trong P. pastoris gồm nhiệt độ nuôi cấy (15–30°C), nồng độ oxy hòa tan, mật độ tế bào ban đầu và nồng độ chất cảm ứng methanol được tác giả tổng hợp từ các công bố quốc tế. Phần cuối chương trình bày phân loại thuốc nhuộm công nghiệp (azo, anthraquinone, triphenylmethane, indigo...), tác hại môi trường và cơ chế khử màu thuốc nhuộm bằng enzyme laccase khi có và không có mặt chất trung gian (LMS).
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết nguồn gốc mẫu thu thập tại các khu vực thực địa ở Thừa Thiên Huế và thiết kế quy trình thực nghiệm. Tác giả trình bày phương pháp phân lập vi sinh vật bằng kỹ thuật pha loãng mẫu và gạt đĩa trên môi trường PDA; phương pháp sàng lọc hoạt tính laccase ngoại bào trên môi trường đĩa thạch BSM có bổ sung 0,01% guaiacol (nhận biết qua quầng màu nâu đỏ). Các công thức môi trường lên men rơm và gỗ (MF1, MF2, MF3, MF4) được chuẩn hóa để đánh giá khả năng tích lũy laccase tự nhiên.
Chương này quy định chi tiết phương pháp xác định hoạt độ enzyme bằng phản ứng oxy hóa ABTS 1 mM ở bước sóng 420 nm, định lượng protein ngoại bào theo Bradford ở bước sóng 595 nm và phương pháp xác định các thông số động học phản ứng ($K_m$, $V_{\max}$) theo phương trình Lineweaver-Burk. Các quy trình sinh học phân tử được mô tả tuần tự: tách chiết DNA bằng đệm CTAB, khuếch đại và giải trình tự vùng ITS; tách chiết RNA, phiên mã ngược cDNA; thiết kế mồi PCR khuếch đại 4 gen Folac1, Folac2, Folac3, Folac4; tạo dòng vào pGEM-T Easy; cắt giới hạn bằng EcoRI và XbaI để chuyển đoạn gen cFolac1 vào vector pPICZαA biểu hiện trong P. pastoris; quy trình tối ưu hóa các thông số lên men biểu hiện (thời gian cảm ứng, nồng độ methanol, mật độ tế bào, nhiệt độ, tốc độ lắc); kỹ thuật tinh sạch ái lực đuôi 6xHis và điện di biến tính SDS-PAGE; phương pháp đo quang phổ đánh giá khả năng khử màu thuốc nhuộm tổng hợp.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm thu được từ quá trình nghiên cứu:
- Phân lập và tuyển chọn chủng nấm sinh laccase: Từ các mẫu xác bã thực vật tại Thừa Thiên Huế, tác giả phân lập được 12 chủng nấm mốc (kí hiệu từ F1 đến F12). Qua sàng lọc trên môi trường BSM chứa guaiacol 0,01%, 3 chủng nấm F4, F5, F8 tạo quầng oxy hóa nâu đỏ đậm rõ rệt xung quanh khuẩn lạc. Đánh giá hoạt tính laccase và hàm lượng protein ngoại bào cho thấy chủng F4 đạt năng lực sinh tổng hợp enzyme vượt trội so với các chủng còn lại.
| Chủng nấm phân lập |
Hàm lượng protein ngoại bào ($\mu\text{g/mL}$) |
Hoạt tính laccase ngoại bào (U/L) |
Đặc điểm quầng chỉ thị guaiacol |
| F4 |
Cao nhất trong 3 chủng |
Vượt trội nhất |
Quầng nâu đỏ đậm lan rộng |
| F5 |
Trung bình |
Thấp hơn chủng F4 |
Quầng nâu đỏ nhạt hơn |
| F8 |
Trung bình |
Thấp hơn chủng F4 |
Quầng nâu đỏ mức độ trung bình |
-
Khảo sát môi trường và điều kiện lên men chủng F4: Khảo sát sự tích lũy laccase của chủng F4 trên 4 môi trường nuôi cấy (MF1: bột rơm bán rắn 10%, MF2: bột gỗ bán rắn 10%, MF3: bột gỗ lỏng 5%, MF4: bột rơm lỏng 5%) ở 30°C trong 18 ngày cho thấy môi trường lỏng MF3 và MF4 kích thích sinh tổng hợp laccase ngoại bào cao hơn môi trường bán rắn MF1 và MF2. Nhiệt độ nuôi cấy thích hợp nhất cho chủng F4 sinh tổng hợp enzyme nằm trong khoảng 25–30°C. Khảo sát đặc tính enzyme thô từ dịch nuôi cấy F4 cho thấy enzyme hoạt động tối ưu ở pH 4,0–5,0 và nhiệt độ 40–45°C. Sự có mặt của các ion $\text{Cu}^{2+}$, $\text{Mn}^{2+}$ ở nồng độ 5 mM làm tăng hoạt tính laccase, trong khi các ion kim loại nặng khác thể hiện mức độ ức chế khác nhau.
-
Định danh phân tử chủng nấm F4: Tách chiết DNA tổng số và khuếch đại vùng ITS 1-4 bằng PCR thu được phân đoạn kích thước khoảng 550–600 bp. Kết quả giải trình tự và so sánh chuỗi nucleotide trên cơ sở dữ liệu NCBI GenBank, kết hợp phân tích cây phả hệ di truyền xác định chủng F4 thuộc loài Fusarium oxysporum, được tác giả đặt tên là Fusarium oxysporum HUIB02.
-
Tách dòng và phân tích 4 gen mã hóa laccase: Từ DNA tổng số và cDNA của chủng F. oxysporum HUIB02, tác giả khuếch đại và tạo dòng thành công 4 gen laccase riêng biệt vào vector pGEM-T Easy, đặt tên là Folac1, Folac2, Folac3, Folac4. Sản phẩm cắt hạn chế bằng EcoRI và giải trình tự gen khẳng định kích thước và cấu trúc khung đọc mở của các gen. Phân tích phả hệ di truyền và mô hình hóa cấu trúc không gian 3 chiều cho thấy 4 gen này có mức độ tương đồng cao với họ gen laccase của các chủng Fusarium oxysporum khác trên GenBank, bảo tồn đầy đủ các phối tử liên kết đồng đặc trưng của họ enzyme phenol oxidase.
-
Biểu hiện tái tổ hợp gen Folac1 trong Pichia pastoris: Đoạn gen cFolac1 từ cDNA được tạo dòng chính xác vào khung đọc mở của vector biểu hiện pPICZαA thông qua hai vị trí cắt hạn chế EcoRI và XbaI. Vector tái tổ hợp pPICZαA-Folac1 được biến nạp vào tế bào khả biến P. pastoris và sàng lọc trên môi trường chứa Zeocin. Sự hiện diện của gen ngoại lai được kiểm tra khẳng định bằng phản ứng PCR sử dụng cặp mồi AOX1.
Quá trình tối ưu hóa các thông số nuôi cấy biểu hiện laccase tái tổ hợp rFolac1 đạt kết quả:
- Thời gian cảm ứng: Hoạt độ laccase ngoại bào tăng dần theo thời gian nuôi cấy cảm ứng và đạt giá trị cực đại sau 72–96 giờ.
- Mật độ tế bào ban đầu: Mật độ tế bào trước khi bổ sung methanol đạt tối ưu ở giá trị $\text{OD}_{600} = 1,0 - 2,0$.
- Nồng độ chất cảm ứng methanol: Bổ sung methanol 100% định kỳ mỗi 24 giờ đến nồng độ cuối cùng 1,0% trong môi trường nuôi cấy cho hoạt tính enzyme cao nhất; nồng độ methanol cao hơn gây ức chế tế bào nấm men.
- Nhiệt độ và tốc độ lắc: Nhiệt độ biểu hiện tối ưu duy trì ở 25–30°C và tốc độ lắc 200–220 vòng/phút giúp cung cấp đủ oxy hòa tan cho quá trình trao đổi chất của nấm men.
-
Tinh sạch và đặc tính hóa laccase tái tổ hợp rFolac1: Protein tái tổ hợp tiết ngoại bào mang đuôi 6xHis được tinh sạch qua cột sắc ký ái lực ion kim loại. Điện di SDS-PAGE cho thấy một băng protein đơn có khối lượng phân tử khoảng 65–70 kDa. Khảo sát động học phản ứng với cơ chất ABTS xác định các giá trị hằng số Michaelis-Menten ($K_m$) và vận tốc phản ứng cực đại ($V_{\max}$). Enzyme tái tổ hợp rFolac1 thể hiện độ bền pH cao trong khoảng pH 4,0–7,0, bền nhiệt ở 30–50°C và duy trì hoạt tính tốt khi có mặt ion $\text{Cu}^{2+}$.
-
Thử nghiệm khử màu thuốc nhuộm công nghiệp: Thử nghiệm khả năng phân hủy chất màu của laccase tự nhiên và tái tổ hợp rFolac1 trên nhiều loại thuốc nhuộm tổng hợp (nhóm triphenylmethane, azo, anthraquinone):
| Loại thuốc nhuộm khảo sát |
Nhóm cấu trúc hóa học |
Tỷ lệ khử màu không có chất trung gian (%) |
Tỷ lệ khử màu khi bổ sung chất trung gian (ABTS / HBT) (%) |
| Malachite green |
Triphenylmethane |
$> 85%$ |
$> 95%$ |
| Congo red |
Azo |
$70 - 85%$ |
$> 90%$ |
| Methyl orange |
Azo |
$65 - 80%$ |
$> 88%$ |
| Remazol Brilliant Blue R (RBBR) |
Anthraquinone |
$75 - 85%$ |
$> 92%$ |
| Các thuốc nhuộm khác (Bromothymol blue, Methylene blue, Indigo carmine...) |
Đa dạng cấu trúc |
Biến thiên theo cấu trúc cơ chất |
Đạt trên $90%$ sau khi tối ưu thời gian phản ứng |
Các dữ liệu thực nghiệm chứng minh rằng đối với các thuốc nhuộm có cấu trúc bền vững hoặc cồng kềnh, việc bổ sung chất trung gian (mediator như ABTS hoặc HBT) đóng vai trò quyết định giúp gia tăng vận tốc phản ứng và nâng cao tỷ lệ khử màu lên trên 90%.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Phân lập chủng nấm bản địa có hoạt tính cao: Luận án đã phân lập và tuyển chọn được chủng nấm sợi Fusarium oxysporum HUIB02 từ nguồn xác bã thực vật tại tỉnh Thừa Thiên Huế có khả năng sinh tổng hợp laccase ngoại bào mạnh. Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu có hệ thống về enzyme laccase từ loài nấm Fusarium oxysporum.
- Giải mã hệ gen mã hóa laccase ở F. oxysporum: Tác giả đã tạo dòng và xác định thành công trình tự nucleotide của 04 gen mã hóa laccase (Folac1, Folac2, Folac3, Folac4) từ cả DNA bộ gen và cDNA của chủng F. oxysporum HUIB02. Kết quả phân tích đối sánh trình tự cho thấy các gen này có độ tương đồng cao với nhóm gen laccase của các chủng Fusarium oxysporum khác trên thế giới, chứng minh tính bảo thủ di truyền cao của họ gen mã hóa laccase ở nấm sợi nói chung và loài F. oxysporum nói riêng.
- Biểu hiện dị chủng thành công gen Folac1: Thiết kế thành công vector tái tổ hợp pPICZαA mang gen cFolac1 và biểu hiện dị chủng thành công trong hệ thống nấm men Pichia pastoris. Luận án ghi nhận đây là nghiên cứu đầu tiên trên thế giới về việc biểu hiện tái tổ hợp thành công gen Folac1 từ Fusarium oxysporum trong tế bào chủ nấm men.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Hiệu quả xử lý thuốc nhuộm công nghiệp: Chứng minh laccase tự nhiên từ dịch nuôi cấy F. oxysporum HUIB02 và chế phẩm laccase tái tổ hợp rFolac1 có khả năng phân hủy hiệu quả nhiều loại phẩm nhuộm công nghiệp có cấu trúc phức tạp thuộc các nhóm azo, anthraquinone, triphenylmethane với tỷ lệ khử màu đạt trên 90%.
- Làm rõ vai trò của hệ chất trung gian (LMS): Cung cấp các thông số thực nghiệm về nồng độ và loại chất trung gian (ABTS, HBT) phù hợp để xử lý các loại phẩm nhuộm có thế khử cao, làm cơ sở khoa học cho việc ứng dụng enzyme trong xử lý nước thải dệt nhuộm thân thiện với môi trường.
- Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Tiếp tục nghiên cứu mở rộng quy mô nuôi cấy biểu hiện P. pastoris tái tổ hợp trong các thiết bị lên men sinh học (bioreactor) có kiểm soát nồng độ oxy hòa tan (DO) và hệ thống cấp methanol tự động nhằm nâng cao sản lượng thu nhận enzyme rFolac1 ở quy mô công nghiệp.
- Nghiên cứu công nghệ cố định enzyme (immobilization) laccase tái tổ hợp trên các giá thể mang sinh học hoặc hạt polymer nhằm tăng độ bền hoạt tính đối với các điều kiện môi trường bất lợi và cho phép tái sử dụng enzyme nhiều chu kỳ.
- Thử nghiệm xử lý trực tiếp trên các dòng nước thải công nghiệp dệt nhuộm thực tế chứa hỗn hợp nhiều loại thuốc nhuộm, muối nồng độ cao và chất trợ nhuộm để đánh giá chính xác tính khả thi trong thực tế sản xuất.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Các thử nghiệm khử màu thuốc nhuộm mới dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm (bình tam giác) với các dung dịch thuốc nhuộm tổng hợp đơn thành phần trong điều kiện dung dịch đệm chuẩn, chưa tiến hành thử nghiệm trên mẫu nước thải thực tế từ các nhà máy dệt nhuộm với thành phần hóa lý biến động phức tạp.
- Luận án mới chỉ tập trung tạo dòng, biểu hiện và nghiên cứu tính chất của một gen đơn lẻ là Folac1. Ba gen laccase còn lại (Folac2, Folac3, Folac4) mới được phân lập, tạo dòng và phân tích trình tự cấu trúc, chưa được biểu hiện tái tổ hợp để so sánh đặc tính động học và hoạt tính phân giải cơ chất giữa các isozyme với nhau.
- Văn bản chưa đi sâu vào việc định danh cấu trúc hóa học chi tiết của các sản phẩm trung gian sau phản ứng khử màu và chưa tiến hành thử nghiệm đánh giá độc tính sinh thái của dòng thải sau khi xử lý bằng enzyme đối với các sinh vật chỉ thị môi trường nước.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục nghiên cứu biểu hiện tái tổ hợp các gen Folac2, Folac3 và Folac4 trong Pichia pastoris nhằm so sánh đặc tính xúc tác, độ bền nhiệt và tính đặc hiệu cơ chất của từng dạng đồng vị enzyme laccase.
- Đánh giá khả năng khoáng hóa và phân tích độc tính tế bào của dung dịch sau xử lý enzyme bằng các kỹ thuật sắc ký khối phổ (GC-MS, LC-MS) và các phép thử sinh học trên tế bào hoặc động vật thủy sinh.
- Phát triển hệ thống cố định laccase tái tổ hợp rFolac1 vào các cột phản ứng sinh học liên tục để xử lý nước thải công nghiệp dệt nhuộm ở quy mô pilot.
Giá trị tham khảo
Nhóm đối tượng thụ hưởng
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Công nghệ Sinh học, Hóa sinh học: Luận án là tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình kỹ thuật sinh học phân tử trọn vẹn, từ phân lập nấm thực địa, tách chiết DNA/RNA, khuếch đại gen bằng PCR, tạo dòng vào vector pGEM-T Easy và pPICZαA, biến nạp nấm men Pichia pastoris, đến kỹ thuật cảm ứng biểu hiện và tinh sạch protein ái lực qua cột His-tag.
- Giảng viên và các nhà nghiên cứu: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật về đặc điểm phân tử của các gen mã hóa laccase ở nấm sợi Fusarium oxysporum, cơ chế xúc tác đa đồng và phương pháp xác định các thông số động học Michaelis-Menten bằng đồ thị Lineweaver-Burk.
- Kỹ sư môi trường và các đơn vị xử lý nước thải công nghiệp: Cung cấp thông số vận hành thực nghiệm về khoảng pH, nhiệt độ tối ưu và hiệu quả xử lý các nhóm màu công nghiệp (azo, triphenylmethane, anthraquinone), mở ra giải pháp công nghệ sinh học thay thế các hóa chất tẩy màu độc hại.
Các nội dung đáng tham khảo nhất
- Quy trình phân lập và sàng lọc định tính hoạt tính laccase bằng quầng màu nâu đỏ trên môi trường thạch BSM chứa cơ chất guaiacol 0,01%.
- Công thức môi trường lên men tận dụng phụ phẩm nông nghiệp (MF1 đến MF4 chứa bột rơm và bột gỗ) để sinh tổng hợp laccase tự nhiên với chi phí thấp.
- Bảng thiết kế các cặp mồi khuếch đại gen laccase từ DNA/cDNA và quy trình tối ưu hóa các thông số nuôi cấy cảm ứng methanol trong P. pastoris.
- Các dẫn liệu thực nghiệm về vai trò của chất trung gian (ABTS, HBT) trong việc nâng cao hiệu suất phân hủy đối với các thuốc nhuộm bền màu.
Câu hỏi thường gặp
1. Chủng nấm mốc nào đã được tác giả lựa chọn để nghiên cứu sâu và định danh bằng phương pháp gì?
Trong số 12 chủng nấm mốc phân lập được từ các mẫu xác bã thực vật mục tại Thừa Thiên Huế (F1–F12), chủng F4 được lựa chọn do có quầng oxy hóa guaiacol đậm nhất, hoạt độ laccase và hàm lượng protein ngoại bào cao nhất. Chủng F4 được định danh phân tử bằng kỹ thuật tách chiết DNA tổng số bằng CTAB, khuếch đại vùng gen đệm ITS 1-4 bằng phản ứng PCR, giải trình tự nucleotide và so sánh dữ liệu trên NCBI GenBank, kết luận chủng thuộc loài Fusarium oxysporum và được đặt tên là Fusarium oxysporum HUIB02.
2. Bốn môi trường lên men khảo sát khả năng sinh tổng hợp laccase tự nhiên của chủng F4 gồm những gì?
Tác giả đã thiết lập 4 môi trường nuôi cấy chứa cơ chất lignocellulose từ phụ phẩm thực vật có kích thước hạt $\le 2\text{ mm}$ trên nền môi trường khoáng tối thiểu BSM (không bổ sung glucose và agar):
- MF1: Môi trường rơm bán rắn (BSM bổ sung 10% bột rơm).
- MF2: Môi trường gỗ bán rắn (BSM bổ sung 10% bột gỗ).
- MF3: Môi trường gỗ lỏng (BSM bổ sung 5% bột gỗ).
- MF4: Môi trường rơm lỏng (BSM bổ sung 5% bột rơm).
Kết quả cho thấy môi trường lỏng MF3 và MF4 giúp tích lũy hoạt tính laccase ngoại bào cao hơn môi trường bán rắn.
3. Nguyên lý và điều kiện tiêu chuẩn để xác định hoạt độ enzyme laccase trong luận án là gì?
Hoạt độ laccase được xác định dựa trên phản ứng oxy hóa cơ chất ABTS thành dạng cation tự do có màu xanh đậm hấp thụ ánh sáng cực đại tại bước sóng 420 nm. Hỗn hợp phản ứng gồm enzyme ủ với 1 mM ABTS trong đệm sodium acetate 100 mM (pH 4,5), tiến hành ủ ở 40°C trong 10 phút và đo mật độ quang trên máy quang phổ Hitachi U-2910 với hệ số hấp thụ phân tử $\varepsilon_{420} = 36,0\text{ mM}^{-1}/\text{cm}$. Một đơn vị hoạt độ (U) được định nghĩa là lượng enzyme cần thiết để chuyển hóa $1\ \mu\text{mol}$ ABTS thành sản phẩm trong thời gian 1 phút ở điều kiện thí nghiệm.
4. Luận án đã tạo dòng bao nhiêu gen laccase và gen nào được chọn để biểu hiện trong Pichia pastoris?
Luận án đã tạo dòng và giải trình tự thành công 04 gen mã hóa laccase từ DNA và cDNA của chủng F. oxysporum HUIB02 vào vector pGEM-T Easy, ký hiệu lần lượt là Folac1, Folac2, Folac3, Folac4. Trong đó, đoạn gen mã hóa hoàn chỉnh từ cDNA của gen Folac1 (kí hiệu là cFolac1) được tác giả lựa chọn để tạo dòng vào vector biểu hiện pPICZαA (thông qua 2 vị trí cắt EcoRI và XbaI) và biến nạp thành công vào nấm men Pichia pastoris.
5. Vì sao cần bổ sung chất trung gian (mediator) trong quá trình khử màu một số thuốc nhuộm công nghiệp?
Một số loại thuốc nhuộm tổng hợp có cấu trúc hóa học cồng kềnh không thể tiếp cận trực tiếp trung tâm hoạt động chứa 4 nguyên tử đồng của laccase, hoặc có thế oxy hóa khử cao hơn thế của enzyme (thế laccase chỉ dao động từ 0,4 V đến 0,8 V). Việc bổ sung các chất trung gian như ABTS hoặc HBT giúp laccase oxy hóa chất trung gian thành các gốc tự do hoạt động mạnh; các gốc tự do này sau đó khuếch tán ra môi trường và oxy hóa gián tiếp phân tử thuốc nhuộm, giúp tỷ lệ khử màu tăng từ mức trung bình lên trên 90%.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đặng Thị Thanh Hà đã thực hiện thành công việc tuyển chọn chủng nấm sợi bản địa Fusarium oxysporum HUIB02 có khả năng sinh tổng hợp laccase ngoại bào cao, đồng thời tách dòng và giải trình tự 04 gen mã hóa laccase (Folac1 đến Folac4). Nghiên cứu đã biểu hiện tái tổ hợp thành công gen Folac1 trong hệ thống nấm men Pichia pastoris, tối ưu hóa quy trình lên men thu nhận enzyme và tinh sạch protein tái tổ hợp rFolac1 mang đuôi 6xHis. Kết quả thực nghiệm khẳng định enzyme laccase tự nhiên và tái tổ hợp có khả năng khử màu trên 90% nhiều loại thuốc nhuộm tổng hợp công nghiệp (đặc biệt khi kết hợp với chất trung gian chuyển electron), cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc ứng dụng công nghệ sinh học enzyme trong xử lý nước thải dệt nhuộm và bảo vệ môi trường.