Luận án tiến sĩ công nghệ sinh học nghiên cứu tạo laccase tái tổ hợp và thử nghiệm khả năng khử màu một số thuốc nhuộm công nghiệp

Luận án tiến sĩ kỹ thuật phân tích công nghệ sinh học nghiên cứu tạo laccase tái tổ hợp và thử nghiệm khả năng khử màu một số thuốc, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

168
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu lí thuyết

2.2. Mục tiêu thực nghiệm

3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

5. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

5.1. Giới thiệu chung về laccase

5.2. Cấu tạo của laccase

5.3. Cơ chế xúc tác của laccase

5.4. Đặc tính của laccase

5.5. Các nguồn thu nhận laccase

5.6. Ảnh hưởng của điều kiện nuôi cấy đến khả năng sinh tổng hợp laccase

5.7. Ứng dụng của laccase

5.8. HỆ THỐNG BIỂU HIỆN Pichia pastoris

5.8.1. Giới thiệu chung về hệ thống P.

5.8.2. Ưu, nhược điểm của P. pastoris so với các hệ thống biểu hiện khác

5.8.3. Hệ thống biểu hiện tái tổ hợp tương đồng sử dụng P.

5.9. THUỐC NHUỘM CÔNG NGHIỆP VÀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ

5.9.1. Thuốc nhuộm công nghiệp

5.9.2. Các phương pháp xử lý thuốc nhuộm công nghiệp

5.9.3. Xử lý màu thuốc nhuộm bằng laccase

6. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

6.1.1. Thu thập mẫu

6.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.2.1. Phân lập các chủng nấm mốc có hoạt tính laccase

6.2.2. Khảo sát sinh tổng hợp laccase từ các chủng phân lập

6.2.3. Xác định hoạt độ enzyme laccase

6.2.4. Phương pháp xác định protein ngoại bào

6.2.5. Xác định một số đặc tính của laccase thô từ chủng phân lập

6.2.6. Định danh phân tử chủng nấm phân lập

6.2.7. Phân lập các gen mã hóa laccase

6.2.8. Biểu hiện cFolac1 trong Pichia pastoris

6.2.9. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến sự biểu hiện laccase tái tổ hợp

6.2.10. Tinh sạch enzyme tái tổ hợp

6.2.11. Điện di SDS – PAGE

6.2.12. Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt độ laccase tái tổ hợp

6.2.13. Thử nghiệm khả năng khử màu thuốc nhuộm tổng hợp

6.2.14. Xử lý thống kê

7. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

7.1. PHÂN LẬP CÁC CHỦNG NẤM MỐC CÓ HOẠT TÍNH LACCASE

7.1.1. Phân lập, làm thuần và giữ giống các chủng nấm mốc

7.1.2. Sàng lọc các chủng nấm mốc sinh tổng hợp laccase

7.1.3. Một số đặc điểm hình thái khuẩn lạc và cuống sinh bào tử của các chủng nấm phân lập

7.1.4. Đánh giá khả năng sinh laccase của chủng nấm phân lập

7.1.5. Khảo sát một số đặc tính của laccase tự nhiên

7.1.6. Định danh vi sinh vật

7.2. TẠO DÒNG CÁC GEN MÃ HÓA LACCASE TỪ F.

7.2.1. Khuếch đại các gen laccase từ cDNA của F.

7.2.2. Tạo dòng các gen mã hóa enzyme laccase trong vector pGEM®T-Easy

7.2.3. Giải trình tự gen laccase

7.3. BIỂU HIỆN GEN MÃ HÓA LACCASE TRONG Pichia pastoris

7.3.1. Tạo dòng cFolac1 vào pGEM®T-Easy và biến nạp vào E.

7.3.2. Tạo dòng vào vector biểu hiện pPICZαA

7.3.3. Tối ưu hóa sự biểu hiện laccase tái tổ hợp

7.3.4. Tinh sạch enzyme

7.3.5. Khảo sát đặc điểm enzyme tái tổ hợp

7.4. THỬ NGHIỆM KHẢ NĂNG PHÂN HỦY THUỐC NHUỘM CÔNG NGHIỆP CỦA LACCASE TÁI TỔ HỢP

7.4.1. PHÂN LẬP CÁC CHỦNG NẤM MỐC CÓ HOẠT TÍNH LACCASE

7.4.2. Môi trường nuôi cấy

7.4.3. Khảo sát một số đặc tính của laccase tự nhiên

7.4.4. PHÂN LẬP CÁC GEN MÃ HÓA LACCASE

7.4.5. BIỂU HIỆN GEN FOLAC1 MÃ HÓA EMZYME TRONG NẤM MEN Pichia pastoris

7.4.6. Biểu hiện gen Folac1

7.4.7. Khảo sát đặc tính enzyme tái tổ hợp

7.4.8. Tối ưu hóa sự biểu hiện laccase tái tổ hợp

7.4.9. THỬ NGHIỆM KHẢ NĂNG PHÂN HỦY THUỐC NHUỘM CÔNG NGHIỆP CỦA LACCASE TÁI TỔ HỢP

8. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu laccase tái tổ hợp khử màu thuốc nhuộm

Nghiên cứu về laccase tái tổ hợp đang trở thành một trong những lĩnh vực quan trọng trong công nghệ sinh học. Laccase là một enzyme oxy hóa khử có khả năng phân hủy các hợp chất hữu cơ, đặc biệt là các thuốc nhuộm công nghiệp. Việc khử màu thuốc nhuộm bằng laccase không chỉ giúp cải thiện chất lượng nước mà còn giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Nghiên cứu này nhằm mục đích tạo ra laccase tái tổ hợp từ chủng nấm Fusarium oxysporum và khảo sát khả năng khử màu của enzyme này đối với một số loại thuốc nhuộm phổ biến.

1.1. Laccase và vai trò trong xử lý môi trường

Laccase là enzyme có khả năng oxy hóa mạnh, có thể phân hủy nhiều loại hợp chất hữu cơ. Enzyme này được ứng dụng rộng rãi trong xử lý nước thải, đặc biệt là trong việc khử màu thuốc nhuộm. Nghiên cứu cho thấy laccase có thể hoạt động hiệu quả trong điều kiện pH và nhiệt độ khác nhau, giúp xử lý các chất ô nhiễm khó phân hủy.

1.2. Tính cấp thiết của nghiên cứu laccase tái tổ hợp

Với sự gia tăng ô nhiễm môi trường do các chất thải công nghiệp, việc phát triển các phương pháp xử lý hiệu quả là rất cần thiết. Laccase tái tổ hợp không chỉ có khả năng phân hủy các hợp chất độc hại mà còn thân thiện với môi trường, tạo ra sản phẩm phụ là nước. Nghiên cứu này nhằm cung cấp giải pháp bền vững cho vấn đề ô nhiễm nước.

II. Vấn đề và thách thức trong xử lý thuốc nhuộm công nghiệp

Xử lý thuốc nhuộm công nghiệp là một thách thức lớn trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Các loại thuốc nhuộm thường có cấu trúc phức tạp, khó phân hủy bằng các phương pháp truyền thống. Việc sử dụng hóa chất để xử lý có thể tạo ra ô nhiễm thứ cấp, do đó cần tìm kiếm các giải pháp sinh học như laccase. Nghiên cứu này sẽ chỉ ra những khó khăn trong việc xử lý thuốc nhuộm và cách mà laccase có thể giải quyết vấn đề này.

2.1. Các loại thuốc nhuộm phổ biến và tác động của chúng

Các loại thuốc nhuộm như azo, anthraquinone và vat dye thường được sử dụng trong ngành công nghiệp dệt nhuộm. Chúng có thể gây ra ô nhiễm nghiêm trọng nếu không được xử lý đúng cách. Những hợp chất này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng nước mà còn gây hại cho sức khỏe con người và sinh vật.

2.2. Thách thức trong việc xử lý thuốc nhuộm bằng phương pháp hóa học

Phương pháp hóa học thường không hiệu quả trong việc phân hủy hoàn toàn các hợp chất thuốc nhuộm. Nhiều phương pháp có thể tạo ra các sản phẩm phụ độc hại, gây ô nhiễm thứ cấp. Do đó, việc tìm kiếm các phương pháp sinh học như laccase là cần thiết để đảm bảo an toàn cho môi trường.

III. Phương pháp nghiên cứu laccase tái tổ hợp

Nghiên cứu laccase tái tổ hợp được thực hiện thông qua các bước như phân lập chủng nấm, tạo dòng gen laccase và biểu hiện trong hệ thống Pichia pastoris. Các phương pháp này giúp tối ưu hóa quá trình sản xuất laccase với hiệu suất cao. Việc khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của enzyme cũng được thực hiện để đảm bảo tính hiệu quả trong việc khử màu thuốc nhuộm.

3.1. Phân lập và xác định chủng nấm có khả năng sinh laccase

Chủng nấm Fusarium oxysporum được phân lập từ môi trường tự nhiên và được khảo sát khả năng sinh tổng hợp laccase. Các phương pháp nuôi cấy và phân lập được áp dụng để đảm bảo chọn lọc được chủng nấm có hoạt tính cao nhất.

3.2. Tạo dòng gen laccase và biểu hiện trong Pichia pastoris

Gen mã hóa laccase được tách chiết và đưa vào hệ thống vector biểu hiện Pichia pastoris. Quá trình này giúp tối ưu hóa sự biểu hiện của enzyme, từ đó nâng cao hiệu suất sản xuất laccase tái tổ hợp.

3.3. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của laccase

Các yếu tố như pH, nhiệt độ, và nồng độ chất cảm ứng được khảo sát để xác định điều kiện tối ưu cho hoạt động của laccase tái tổ hợp. Kết quả từ các thí nghiệm này sẽ giúp cải thiện khả năng khử màu thuốc nhuộm của enzyme.

IV. Kết quả nghiên cứu khả năng khử màu thuốc nhuộm

Kết quả nghiên cứu cho thấy laccase tái tổ hợp có khả năng khử màu hiệu quả đối với nhiều loại thuốc nhuộm khác nhau. Các thí nghiệm cho thấy tỷ lệ khử màu có thể đạt trên 90% trong điều kiện tối ưu. Điều này chứng tỏ tính ứng dụng cao của laccase trong xử lý nước thải công nghiệp.

4.1. Khả năng khử màu của laccase tái tổ hợp

Laccase tái tổ hợp đã được thử nghiệm với nhiều loại thuốc nhuộm khác nhau. Kết quả cho thấy enzyme có khả năng khử màu cao, đặc biệt là đối với các thuốc nhuộm azo. Điều này mở ra triển vọng cho việc ứng dụng laccase trong xử lý nước thải.

4.2. So sánh hiệu quả khử màu giữa laccase tự nhiên và tái tổ hợp

So sánh giữa laccase tự nhiên và laccase tái tổ hợp cho thấy enzyme tái tổ hợp có hiệu suất khử màu cao hơn. Điều này cho thấy việc sử dụng laccase tái tổ hợp là một giải pháp hiệu quả hơn trong xử lý thuốc nhuộm công nghiệp.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu laccase

Nghiên cứu về laccase tái tổ hợp khử màu thuốc nhuộm đã chứng minh được tính khả thi và hiệu quả trong việc xử lý ô nhiễm môi trường. Kết quả cho thấy laccase có thể trở thành một giải pháp bền vững cho vấn đề ô nhiễm nước. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa quy trình sản xuất và mở rộng ứng dụng của laccase trong các lĩnh vực khác.

5.1. Tính khả thi của laccase trong xử lý ô nhiễm

Laccase tái tổ hợp đã cho thấy khả năng xử lý ô nhiễm hiệu quả, đặc biệt là trong việc khử màu thuốc nhuộm. Điều này mở ra cơ hội cho việc ứng dụng enzyme trong các lĩnh vực khác như xử lý chất thải công nghiệp và nông nghiệp.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực laccase

Cần tiếp tục nghiên cứu để cải thiện hiệu suất và tính ổn định của laccase tái tổ hợp. Việc tìm kiếm các chủng nấm mới và tối ưu hóa quy trình sản xuất sẽ giúp nâng cao khả năng ứng dụng của enzyme trong thực tiễn.

16/08/2025
Luận án tiến sĩ công nghệ sinh học nghiên cứu tạo laccase tái tổ hợp và thử nghiệm khả năng khử màu một số thuốc nhuộm công nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Công nghệ sinh học đã và đang làm thay đổi thế giới, chính vì vậy mà nhiều tổ chức và chuyên gia trên thế giới đã khẳng định thế kỷ XXI là thế kỷ của Công nghệ sinh học. Cùng với sự phát triển của xã hội, trong những năm gần đây, lĩnh vực công nghệ sinh học ngày một khẳng định vai trò của mình, Công nghệ sinh học đã thực sự trở thành công cụ không thể thiếu, đóng góp thiết thực và hiệu quả trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, y – dược, vật liệu… với việc tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi mới cho năng suất, chất lượng với hiệu quả kinh tế cao, các loại enzyme đã tạo ra những sinh phẩm phục vụ điều trị bệnh, và những chế phẩm vi sinh ứng dụng trong xử lý môi trường. Với tốc độ ô nhiễm môi trường đang gia tăng do việc thải các chất thải vào môi trường không kiểm soát như hiện nay, sử dụng các phương pháp hóa học và sinh học thông thường ngày càng khó đạt được mức độ cần thiết để loại bỏ các chất ô nhiễm.

Do đó, việc triển khai những phương pháp xử lí hiệu quả và không gây ô nhiễm thứ cấp là điều cấp thiết. Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh được enzyme có nhiều khả năng và triển vọng trong giải quyết vấn đề xử lí ô nhiễm môi trường. Enzyme có thể hoạt động trên các chất ô nhiễm đặc biệt khó xử lí để loại chúng bằng cách kết tủa, chuyển hóa, phân hủy các chất ô nhiễm thành dạng khác. Ngoài ra, enzyme còn có thể làm thay đổi các đặc tính của chất thải đưa chúng về dạng dễ xử lí hoặc chuyển thành các sản phẩm có giá trị hơn.

Phương pháp xử lí bằng enzyme có những ưu điểm sau: được áp dụng với những chất sinh học khó xử lí, tác dụng cả ở vùng nồng độ chất ô nhiễm môi trường cao, một số enzyme riêng biệt có tác dụng trên phạm vi rộng pH, nhiệt độ,…mà không gây ra những biến đổi bất thường, không gây ra các cản trở phá vỡ cân bằng sinh thái. Như đã biết, các chất độc hại trong môi trường thường là các chất hữu cơ có vòng thơm như các hợp chất phenol, amine vòng hoặc các hợp chất phosphorus, để đạt được mục đích xử lí môi trường cần phải phá hủy hoặc loại bỏ các chất độc đó. Trong các loại enzyme, thì enzyme phản ứng oxy 1 hóa khử thuộc lớp 1 (oxydoreductase) và các enzyme xúc tác phản ứng thủy phân thuộc lớp 3 (hydrolase) có khả năng phân hủy các hợp chất được nêu trên rất cao.2, p-diphenol oxidase) là một enzyme đặc biệt phổ biến và linh hoạt được sản xuất rộng rãi và đa dạng trong tự nhiên như từ thực vật, nấm, vi khuẩn và côn trùng, thuộc nhóm enzyme oxidase, cụ thể là phenol oxidase, xúc tác quá trình oxy hóa nhiều hợp chất hữu cơ bao gồm diphenol, polyphenol, diamine, amine thơm, benzenethiol và một số hợp chất vô cơ như iodine,… Laccase có tính oxy hóa mạnh, có phổ cơ chất đa dạng và sử dụng oxygen phân tử làm chất nhận điện tử nên enzyme này được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp, trong xử lý phụ phẩm công - nông nghiệp và nguồn nước thải ô nhiễm. Bên cạnh đó, laccase cũng là enzyme thân thiện với môi trường do trong phản ứng laccase chỉ cần lấy oxygen từ không khí và sản phẩm phụ duy nhất tạo thành sau phản ứng là nước.

Với những ứng dụng quan trọng và những lợi thế ưu việt như vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu tạo laccase tái tổ hợp và thử nghiệm khả năng khử màu một số thuốc nhuộm công nghiệp” nhằm mục đích tạo được laccase tái tổ hợp để phân giải các hợp chất hữu cơ khó phân hủy gây ô nhiễm môi trường. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu lí thuyết - Tuyển chọn được chủng vi sinh vật mới có khả năng phân giải laccase mạnh. - Nghiên cứu biểu hiện laccase của Fusarium oxysporum trong Pichia pastoris nhằm nâng cao hiệu suất sinh tổng hợp. - Phân hủy thành công một số thuốc nhuộm tổng hợp bằng laccase tái tổ hợp.

Mục tiêu thực nghiệm: tạo được laccase tái tổ hợp để phân giải các hợp chất hữu cơ khó phân hủy gây ô nhiễm môi trường. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU - Tuyển chọn chủng nấm sinh tổng hợp laccase; - Tạo dòng gen laccase vào hệ thống vector biểu hiện cho P. pastoris; - Sinh tổng hợp laccase trong P. pastoris; - Tinh sạch và xác định đặc tính laccase tái tổ hợp; 2 - Khảo sát khả năng phân hủy các hợp chất màu hữu cơ (khó phân hủy) của laccase tái tổ hợp.

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN - Phân lập được chủng F. oxysporum HUIB02 có khả năng sinh tổng hợp laccase ngoại bào mạnh. Đây là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về laccase từ F. - Tạo dòng và giải trình tự thành công 04 gen mã hóa laccase từ DNA và cDNA của chủng F.

Các gen có độ tương đồng cao với nhóm gen laccase của các chủng F. oxysporum phân lập từ các vùng khác trên thế giới cho thấy có sự bảo thủ cao về nhóm gen mã hóa laccase ở nấm nói chung và F. - Biểu hiện tái tổ hợp thành công gen mã hóa laccase từ cDNA của chủng F. oxysporum HUIB02 trong P.

Gen được ký hiệu ký hiệu Folac1, đây là nghiên cứu đầu tiên trên thế giới về biểu hiện tái tổ hợp thành công Folac1 trong vật chủ. - Laccase tự nhiên và laccase tái tổ hợp có khả năng phân hủy màu của nhiều loại thuốc nhuộm tổng hợp với hiệu suất hơn 90%. Kết quả chứng minh tính ứng dụng cao của laccase tái tổ hợp trong xử lý các hợp chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Giới thiệu chung về laccase Laccase (Lacc, EC 1.2) thuộc nhóm polyphenol oxidase, là protein có chứa đồng (Cu) trong cấu trúc, với các tính năng đặc trưng là oxy hoá các hợp chất vòng thơm và đòi hỏi oxygen phân tử cho hoạt tính. Laccase còn được biết đến như một enzyme thân thiện với môi trường do trong phản ứng laccase chỉ cần lấy oxygen từ không khí và sản phẩm phụ duy nhất tạo thành sau phản ứng là nước [80]. Laccase là một trong số ít các enzyme đã được nghiên cứu từ thế kỷ XIX. Yoshida mô tả laccase đầu tiên vào năm 1883 khi ông chiết xuất từ các dịch tiết của cây sơn mài Nhật Bản (Rhus vernicifera).

Năm 1893, Gabriel Bertrand đã phân lập được enzyme này từ R. succedanea và các chủng khác của họ Anacardiaceae: Mangifera indica, Schinus molle, Pistacia palaestina, Pleiogynium timoriense. Laccase là enzyme thuộc nhóm protein nhân Cu, một số enzyme khác trong nhóm nhân Cu gồm enzyme cytochrome oxidase ở thực vật và enzyme ceruloplasmin trong huyết tương động vật có vú. Các loại laccase tách chiết từ các nguồn khác nhau có sự khác biệt về mức độ glycosyl hóa, khối lượng phân tử và động học enzyme [43].

Cấu tạo của laccase 1. Khối lượng phân tử Phân tử laccase thường là monomeric protein, chỉ một số là oligomeric protein, có khối lượng phân tử dao động trong khoảng 60 – 90 kDa. Phần lớn laccase của nấm có bản chất là glycoprotein với hàm lượng carbohydrate chiếm khoảng 10 – 25% [24]. Cấu trúc không gian Laccase được phân loại như là protein nhân Cu với bốn nguyên tử Cu trong ba trạng thái oxy hóa khử khác nhau.

Phân tử laccase thông thường bao gồm 3 tiểu phần (vùng) chính A, B, C có khối lượng tương đối bằng nhau, cả ba phần đều có vai trò trong quá trình xúc tác của laccase. Vị trí liên kết với cơ chất nằm ở khe giữa vùng B 4 và C, trung tâm một nguyên tử Cu nằm ở vùng C và trung tâm ba nguyên tử Cu nằm ở bề mặt chung của vùng A và C (hình 1. Cấu trúc không gian của laccase từ Melanocarpus albomyces. Tiểu phần A, B, C được kí hiệu đỏ, vàng và xanh lá cây [13].1, trung tâm Cu một nguyên tử chỉ chứa 1 nguyên tử Cu T1, liên kết với một đoạn peptide có 2 gốc histidine và 1 gốc cysteine.

Liên kết giữa nguyên tử đồng T1 với nguyên tử S của cysteine là liên kết đồng hóa trị bền và hấp thụ ánh sáng ở bước sóng 600 nm, tạo cho laccase có màu xanh nước biển đặc trưng. Trung tâm hoạt động của laccase được mô hình hóa bởi Sergio [10]. 5 Tất cả laccase đều giống nhau về cấu trúc trung tâm xúc tác với 4 nguyên tử Cu. Những nguyên tử Cu này được chia thành 3 nhóm: loại 1 (T1), loại 2 (T2) và loại 3 (T3), chúng khác nhau về tính chất hấp thụ ánh sáng và thế điện tử.

Các nguyên tử Cu T1 và T2 có tính chất hấp phụ điện tử và tạo thành phổ điện tử mạnh, trong khi cặp nguyên tử Cu T3 không tạo phổ hấp thụ điện tử và có thể được hoạt hóa khi liên kết với anion mạnh [43], [60], [80]. Cấu trúc trung tâm hoạt động của laccase [60]. Trung tâm Cu có 3 nguyên tử gồm một nguyên tử Cu T2 và một cặp nguyên tử Cu T3. Nguyên tử Cu T2 liên kết với 2 gốc histidine bảo thủ trong khi các nguyên tử Cu T3 thì tạo liên kết với 6 gốc histidine bảo thủ [60].

Cơ chế xúc tác của laccase Laccase là enzyme oxy hóa khử có khả năng oxy hóa diphenol và các hợp chất có liên quan, sử dụng oxygen phân tử làm chất nhận điện tử. Thế oxy hóa khử của laccase dao động trong khoảng 0,4 V- 0,8 V [132]. Cơ chất khử bị mất một điện tử nhờ xúc tác laccase thường tạo thành một gốc tự do, gốc tự do không bền này tiếp tục bị oxy hóa nhờ xúc tác bởi chính laccase đó hoặc tiếp tục các phản ứng không cần xúc tác enzyme như hydrate hóa, phân ly hoặc polymer hóa [10]. Trung tâm Cu một nguyên tử (T1) là nơi diễn ra phản ứng oxy hóa cơ chất.

Cơ chất chuyển một điện tử cho nguyên tử Cu T1, biến nguyên tử Cu T1 (Cu2+) trở thành 6 dạng Cu+, hình thành phân tử laccase có cả 4 nguyên tử Cu đều ở trạng thái khử (Cu+). Một chu kỳ xúc tác liên quan đến sự vận chuyển đồng thời 4 điện tử từ nguyên tử Cu T1 sang cụm nguyên tử Cu T2/T3 qua cầu tripeptide bảo thủ His-Cys-His. Phân tử oxygen sau đó oxy hóa laccase dạng khử, tạo thành hợp chất trung gian peroxidase cuối cùng bị khử thành nước [10], [43]. Ngoài ra, sự xúc tác của laccase có thể xảy ra theo cơ chế sau.

Đầu tiên cơ chất bị oxy hóa trực tiếp bởi trung tâm hoạt động do 4 nguyên tử Cu đảm nhiệm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ