Nghiên cứu kỹ thuật trồng bần không cánh Sonneratia apetala ở vùng ven biển Bắc Bộ

Nghiên cứu kỹ thuật trồng bần không cánh Sonneratia apetala Buch Ham tại vùng ven biển Bắc Bộ, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Lâm Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2019

93
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Trên thế giới

1.2. Nghiên cứu về phân bố, đặc điểm hình thái và vật hậu

1.3. Những nghiên cứu dẫn giống và gây trồng Bần không cánh

1.4. Nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng Bần không cánh

1.5. Nghiên cứu sinh trưởng của Bần không cánh

1.6. Về phân loại, hình thái và phân bố

1.7. Những nghiên cứu về đặc điểm sinh thái

1.8. Những nghiên cứu về đặc điểm sinh lý

1.9. Nghiên cứu tạo cây con

1.10. Nghiên cứu về trồng rừng

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu tổng quát

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

2.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

2.4.1. Điều kiện tự nhiên

2.4.2. Kinh tế xã hội

2.5. Điều tra đánh giá sinh trưởng và chất lượng rừng trồng Bần tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

2.5.1. Điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng cây mẹ (Doo, Hvn, Hdc, Dt) tại Thái Bình

2.5.2. Bước đầu nghiên cứu kỹ thuật trồng Bần không cánh tại Thái Bình

2.5.3. Tổng hợp kỹ thuật nhân giống Bần không cánh tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

2.6. Phương pháp nghiên cứu

2.6.1. Phương pháp kế thừa

2.6.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm

2.7. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Sinh trưởng và chất lượng rừng trồng Bần không cánh hiện nay tại tỉnh Thái Bình

3.1.1. Tại xã Đông Hoàng, huyện Tiền Hải

3.1.2. Tại xã Đông Long, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

3.2. Kết quả điều tra cây mẹ Bần không cánh

3.3. Bước đầu nghiên cứu kỹ thuật trồng Bần không cánh tại xã Đông Hoàng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

3.4. Thí nghiệm về tuổi cây giống

3.5. Thí nghiệm về mật độ trồng

3.6. Thí nghiệm về phương thức trồng

3.7. Thí nghiệm về phương pháp trồng

3.8. Tổng hợp kỹ thuật nhân giống Bần không cánh tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

3.8.1. Thu hái hạt giống, xử lý hạt giống, gieo ươm, chăm sóc cây con

3.8.2. Chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây con

3.8.3. Tiêu chuẩn cây con xuất vườn

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

4.1. Tài liệu trong nước

4.2. Tài liệu nước ngoài

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu kỹ thuật trồng bần không cánh Sonneratia apetala

Nghiên cứu kỹ thuật trồng bần không cánh (Sonneratia apetala) ở ven biển Bắc Bộ là một chủ đề quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển hệ sinh thái ven biển. Bần không cánh là một loài cây có khả năng thích ứng tốt với môi trường ngập mặn, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển và duy trì đa dạng sinh học. Việc nghiên cứu kỹ thuật trồng loài cây này không chỉ giúp phục hồi rừng ngập mặn mà còn góp phần vào phát triển bền vững cho các vùng ven biển.

1.1. Đặc điểm sinh thái và phân bố của bần không cánh

Bần không cánh (Sonneratia apetala) thường phân bố ở các vùng ven biển, đặc biệt là ở Ấn Độ, Myanma và Bangladesh. Loài cây này có khả năng chịu mặn tốt và phát triển mạnh trong điều kiện ngập triều. Nghiên cứu cho thấy bần không cánh có thể phát triển ở những nơi có độ mặn thấp, giúp cải thiện chất lượng đất và bảo vệ môi trường.

1.2. Vai trò của bần không cánh trong hệ sinh thái ven biển

Bần không cánh đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển khỏi xói lở, đồng thời cung cấp môi trường sống cho nhiều loài động thực vật. Hệ sinh thái rừng ngập mặn với sự hiện diện của bần không cánh giúp duy trì cân bằng sinh thái và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

II. Thách thức trong việc trồng bần không cánh ở ven biển Bắc Bộ

Việc trồng bần không cánh ở ven biển Bắc Bộ gặp nhiều thách thức, bao gồm sự thay đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và áp lực từ hoạt động khai thác. Những yếu tố này ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của loài cây này. Đặc biệt, việc quản lý và bảo vệ rừng ngập mặn còn gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn lực và chính sách hỗ trợ.

2.1. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến bần không cánh

Biến đổi khí hậu gây ra sự thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa, ảnh hưởng đến sự phát triển của bần không cánh. Nhiệt độ tăng cao có thể làm giảm khả năng sinh trưởng của cây, trong khi đó, lượng mưa không ổn định có thể dẫn đến tình trạng ngập úng hoặc hạn hán.

2.2. Ô nhiễm môi trường và tác động đến bần không cánh

Ô nhiễm từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt có thể làm giảm chất lượng đất và nước, ảnh hưởng đến sự phát triển của bần không cánh. Các chất ô nhiễm có thể gây hại cho rễ và lá cây, làm giảm khả năng sinh trưởng và tỷ lệ sống sót của cây con.

III. Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật trồng bần không cánh hiệu quả

Để trồng bần không cánh hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học và thực tiễn. Việc lựa chọn giống, kỹ thuật gieo trồng và chăm sóc cây con là những yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công của việc trồng rừng. Nghiên cứu cho thấy việc áp dụng các kỹ thuật hiện đại có thể nâng cao tỷ lệ sống và sinh trưởng của cây.

3.1. Kỹ thuật chọn giống bần không cánh

Việc chọn giống bần không cánh có ảnh hưởng lớn đến sự thành công của việc trồng rừng. Cần lựa chọn những cây mẹ có đặc điểm sinh trưởng tốt, sức sống mạnh mẽ để thu hoạch hạt giống. Hạt giống cần được bảo quản và xử lý đúng cách trước khi gieo trồng.

3.2. Kỹ thuật gieo trồng và chăm sóc cây con

Kỹ thuật gieo trồng bần không cánh cần được thực hiện vào thời điểm thích hợp, thường từ tháng 4 đến tháng 8. Cây con cần được chăm sóc kỹ lưỡng trong giai đoạn đầu, bao gồm tưới nước, bón phân và phòng trừ sâu bệnh để đảm bảo tỷ lệ sống cao.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về bần không cánh

Nghiên cứu về kỹ thuật trồng bần không cánh đã cho thấy nhiều kết quả khả quan. Việc áp dụng các phương pháp trồng rừng hiện đại đã giúp nâng cao tỷ lệ sống và sinh trưởng của cây. Các mô hình trồng bần không cánh đã được triển khai thành công tại nhiều địa phương, góp phần phục hồi hệ sinh thái ven biển.

4.1. Mô hình trồng bần không cánh tại Thái Bình

Tại Thái Bình, mô hình trồng bần không cánh đã được triển khai với tỷ lệ sống đạt 90%. Các cây trồng phát triển tốt, chiều cao trung bình đạt 1,5m sau một năm. Mô hình này đã chứng minh hiệu quả trong việc phục hồi rừng ngập mặn.

4.2. Kết quả nghiên cứu về sinh trưởng của bần không cánh

Kết quả nghiên cứu cho thấy bần không cánh có khả năng sinh trưởng nhanh, với chiều cao trung bình đạt 12,54m sau 7 năm trồng. Điều này cho thấy tiềm năng lớn của loài cây này trong việc phục hồi rừng ngập mặn và bảo vệ môi trường.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của bần không cánh

Nghiên cứu kỹ thuật trồng bần không cánh (Sonneratia apetala) ở ven biển Bắc Bộ không chỉ mang lại lợi ích về môi trường mà còn góp phần vào phát triển kinh tế bền vững. Việc bảo tồn và phát triển loài cây này cần được chú trọng hơn nữa trong tương lai. Các chính sách hỗ trợ và đầu tư cho nghiên cứu sẽ là yếu tố quyết định cho sự thành công của việc trồng rừng ngập mặn.

5.1. Tầm quan trọng của bần không cánh trong bảo vệ môi trường

Bần không cánh đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường ven biển, giúp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và bảo vệ đa dạng sinh học. Việc phát triển rừng ngập mặn với sự hiện diện của bần không cánh sẽ góp phần duy trì cân bằng sinh thái.

5.2. Định hướng phát triển bền vững cho bần không cánh

Định hướng phát triển bền vững cho bần không cánh cần được xây dựng dựa trên các nghiên cứu khoa học và thực tiễn. Cần có các chính sách hỗ trợ cho việc trồng rừng, bảo vệ và phát triển bền vững hệ sinh thái ven biển.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu kỹ thuật trồng bần không cánh sonneratia apetala buch ham ở vùng ven biển bắc bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên thiên nhiên luôn gắn với cuộc sống của loài ngƣời đã từ rất lâu. Mỗi loại tài nguyên đều có những giá trị kinh tế, xã hội hay giá trị môi trƣờng nhất định. Rừng ngập mặn (RNM) là một hiện tƣợng tự nhiên đƣợc hình thành và phát triển trên các vùng cửa sông, cửa biển ở một số vùng nhiệt đới và á nhiệt đới tạo nên một hệ sinh thái với những nét đặc trƣng riêng. Hệ thống rừng ngập mặn ven biển đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học, đặc biệt là vai trò phòng hộ chắn sóng, chắn gió bão, bảo vệ sản xuất và đời sống của nhân dân, bảo vệ các công trình đê điều ven biển.

Tuy nhiên, thời gian qua các hệ sinh thái ven biển đã suy giảm nặng nề cả về diện tích lẫn chất lƣợng do nhiều nguyên nhân. Điển hình nhƣ vùng Bắc Bộ, chỉ riêng tính đến năm 2005, các trận bão đặc biệt là bão số 7 đã làm xói lở bờ biển gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhiều tỉnh nhƣ Thái Bình, Nam Định. Bên cạnh các yếu tố tự nhiên nhƣ gió bão, nƣớc biển dâng, xói lở bờ biển thì rừng ngập mặn còn bị suy giảm mạnh bởi các yếu tố xã hội nhƣ khai thác rừng không hợp lý, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng mà điển hình là sang nuôi trồng thủy sản, công tác quản lý bảo vệ rừng chƣa tốt, biện pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng chƣa phù hợp. Tại thời điểm năm 2013, tổng diện tích rừng ngập mặn nƣớc ta là 168.688 ha, giảm gần 60% so với năm 1943 và cấu trúc rừng cũng bị thay đổi, nhiều diện tích rừng bị suy thoái làm suy giảm chức năng phòng hộ.

Về chất lƣợng, tổ thành loài đơn giản, mật độ cây rừng thấp, phần lớn các rừng mới trồng chủ yếu là rừng trồng thuần loài và tỷ lệ thành rừng không cao. Sự suy thoái rừng ngập mặn đã làm suy giảm cấu trúc và chức năng của rừng, do đó làm giảm vai trò kinh tế, xã hội và đặc biệt là giảm giá trị phòng hộ và môi trƣờng của rừng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Để khắc phục những thiệt hại cũng nhƣ phục hồi và phát triển rừng ngập mặn thì việc trồng, quản lý và bảo vệ rừng ngập mặn giúp phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trƣờng và phát triển kinh tế đóng vai trò quan trọng đối với các vùng ven biển Việt Nam nói chung và vùng ven biển Bắc Bộ nói riêng, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật trồng Bần không cánh (Sonneratia apetala Buch – Ham) ở vùng ven biển Bắc Bộ” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Rừng ngập mặn có vai trò vô cùng quan trọng về môi trƣờng, kinh tế và xã hội thông qua việc cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái.

Có thể phân chia thành 4 nhóm dịch vụ, bao gồm dịch vụ cung cấp (gỗ, nguồn lợi thủy sản), dịch vụ điều tiết (bảo vệ bờ biển, hấp thụ cacbon), dịch vụ hỗ trợ (cố định phù sa, hỗ trợ sản xuất, tuần hoàn dinh dƣỡng), và dịch vụ văn hóa (các giá trị tín ngƣỡng, du lịch và giải trí) (Rönnbäck và cs, 2007). Tuy nhiên suy giảm rừng ngập mặn về cả diện tích và chất lƣợng trên thế giới hiện nay đang là vấn đề đáng báo động. Nghiên cứu về phân bố, đặc điểm hình thái và vật hậu Bần không cánh phân bố tự nhiên ở Ấn Độ, Myanma và Bangladesh, hiện nay loài cây này đã đƣợc dẫn giống trồng rừng thành công ở tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến thuộc Trung Quốc (IUCN, 2010). Bần không cánh là loài cây gỗ lớn, cao 15-20m, thân hình trụ tròn, có rễ thở dạng măng mọc vƣơn ra bề mặt nƣớc, thân cành màu xám, khi còn non có màu xanh nhạt; cành nhỏ mảnh mai rủ xuống, dần cứng cáp và một phần nâng lên.

Lá mọc đối xứng, dày, hình bầu dục tròn đến hình bầu dục dài, độ dài từ 5,5-13,0 cm, rộng 1,5-3,5 cm, cuống lá màu xanh nhạt đến hồng nhạt. Hoa tự chùm, chồi hoa hình trứng, đài hoa 4 thuỳ hình tam giác dài 1,5-2,0 cm màu xanh. Quả hình cầu mọng chứa nhiều nƣớc, đƣờng kính 1,5-3,0 cm. Quả mẹ có khoảng 50 hạt.

Hạt có hình chữ V từ 3,6-10,5 mm, bình quân là 6,4 mm, phía ngoài vỏ hạt giống có nhiều lỗ, lồi lõm không đều, màu vàng trắng. Khi hạt nảy mầm khỏi đất có 2 lá, hình bầu dục dài, độ dài 2,0-2,8 cm, rộng 0,8-1,0 cm. Thân mầm trên dài 0,4-0,5 cm, màu hồng nhạt, thân mầm dƣới dài 1,8-2,7 cm có màu xanh hoặc màu hồng nhạt (Li Y Y, et al, 2012). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Ở mỗi khu vực sinh sống, Bần không cánh có kỳ vật hậu khác nhau, thông thƣờng ở những vùng có vĩ độ càng cao thì kỳ vật hậu đến muộn và cũng kết thúc muộn hơn.

Theo nghiên cứu của tác giả Li Y Y, et al, (2012), tại Vịnh Đông Trại - Hải Nam, Bần không cánh cuối tháng 3 bắt đầu xuất hiện nụ hoa, đến đầu tháng 5 bắt đầu nở hoa, cuối tháng 5 là thời kỳ hoa nở rộ, bắt đầu kết quả, cuối tháng 8 quả bắt đầu chín, từ giữa đến cuối tháng 9 là thời kỳ quả chín rộ, tháng 10 là thời kỳ cuối cùng quả chín. Tại Thâm Quyến - Quảng Đông, Bần không cánh cuối tháng 5 mới bắt đầu xuất hiện nụ hoa, đầu tháng 6 hoa nở, cuối tháng 6 kết quả, cuối tháng 10 quả bắt đầu chín, giữa tháng 11 là thời kỳ quả chín rộ, cuối tháng 11 quả chín là thời kỳ cuối. Những nghiên cứu dẫn giống và gây trồng Bần không cánh 1. Nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng Bần không cánh Bangladesh là quốc gia có rừng ngập mặn trồng với diện tích lớn dọc bờ biển (Das và Siddiqui).

Một trong những chƣơng trình lớn về tái trồng rừng đƣợc thực hiện ở vùng bờ biển Chittagong, Noakhali, Bhola, Barisal và Patuakhali thuộc Bangladesh. Chƣơng trình này lần đầu tiên đƣợc thực hiện ở Bangladesh vào năm 1966 và đến hiện giờ vẫn đang tiếp tục (Aiddiqui và Khan, 2000). Khoảng cách trồng bần không cánh trong chƣơng trình này là 1,02 x 1,20 m đến 1,8 x 1,8 với mật độ lần lƣợt là 6945 và 3085 cây/ha. Tại Bangladesh, Bần không cánh thƣờng đƣợc trồng thuần loài hoặc hỗn loài, các loài cây trồng hỗn loài là Vẹt đen (Bruguiedoa Sexuangula), Mắm đen (Avicennia officinalis), cây Giá (Excecaria agallocha),…(Islam và cộng sự, 2011).

Việc chọn giống có ảnh hƣởng rất lớn đến sự thành công của việc trồng rừng Bần không cánh. Theo Hawlader (1999), sinh trƣởng và năng suất của rừng Bần không cánh ở Bangladesh thƣờng thấp hơn so với một số nƣớc trong khu vực nguyên nhân là do chất lƣợng hạt giống không đảm bảo. Đối với hạt giống tốt đƣợc lựa chọn, sau 7 năm trồng, tỷ lệ sống là 48-54%, chiều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 cao trung bình là 12,54m, đƣờng kính ngang ngực là 12,09cm, tăng trƣởng bình quân hàng năm là 38,09 m3/ha/năm. Đối với hạt giống đƣợc lựa chọn không thông qua lựa chọn cây mẹ, tỷ lệ sống của cây là 32 - 41%, chiều cao là 7,71m, đƣờng kính ngang ngực là 8,51cm, tăng trƣởng bình quân hàng năm là 8,13m3/ha/năm (Islam và cộng sự, 2016).

Theo Nandy và cộng sự (2004), việc chọn hạt giống Bần không cánh có thể đƣợc tiến hành bằng cách cho điểm cây mẹ nhƣ sau: điểm 10 đối với đƣờng kính ngang ngực, điểm 15 cho chiều cao cây, điểm 20 cho hình dáng thân, điểm 5 cho tỉa thƣa tự nhiên, điểm 10 cho sự phát triển cành, điểm 5 cho độ lớn của cành, 10 cho sự phát triển của vòng gỗ và sản lƣợng quả, 10 cho khả năng vƣợt trội của ngọn cây, 5 cho khả năng phân cành và 10 cho sức sống của cây. Các cây có điểm từ 53-70 (giá trị trung bình 63) sẽ đƣợc lựa chọn, cây có điểm từ 55-86 (giá trị trung bình là 70) đƣợc đánh giá là những cây tốt nhất. Những cây mẹ có điểm ít hơn 53 sẽ bị loại không lấy hạt giống. Hạt giống đƣợc thu thập từ tháng 8 đến tháng 9.

Hạt giống đƣợc bảo quản trong túi bầu với kích thƣớc 25x15cm cùng với đất vụn nhỏ và phân bò với tỷ lệ 3:1. Hạt giống sẽ đƣợc giữ trong vƣờn ƣơm trong vòng 10 tháng (Islam và cộng sự, 2016). Cây con cao từ 40 cm trở lên có thể đem trồng rừng, nơi trồng rừng nên chọn nơi mà khi thuỷ triều dâng lên độ sâu ngập 1 m trở xuống, bãi lầy có độ mặn nƣớc biển không cao hơn 25 ‰ (Zhang S W, 2010), trong đó lấy nơi cửa sông có đất bùn sét, độ mặn nhỏ hơn 10‰ là tốt nhất (Wu Z H, et al, 2000). Mùa vụ thích hợp trồng rừng từ tháng 4 đến tháng 8, tháng 9 trở về sau thời tiết dần chuyển lạnh, không có lợi cho sinh trƣởng, gặp phải đợt không khí lạnh bị đóng băng gây chết cây.

Khi cây con sinh trƣởng tốt hơn thì khả năng kháng lạnh dần đƣợc tăng cƣờng. Cây con ở các địa điểm có khí hậu và điều kiện thuỷ triều khác nhau nhận đƣợc mức độ ảnh hƣởng khác nhau. Nhƣ ở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Trạm Giang từ tháng 5 đến tháng 8 trồng rừng là tốt nhất, thời gian này là mùa mƣa, độ mặn nƣớc biển các bãi lầy giảm thấp, mức độ gây hại của các loài sinh vật nhƣ Hà (Hàu), Cua đối cây con ít, làm cho trồng rừng Bần không cánh có tỉ lệ sống cao(Wu Z H, et al, 2000). Tại huyện Chƣơng Phố, Phúc Kiến trồng rừng vào cuối tháng 4 đến cuối tháng 5 có tỉ lệ thành rừng cao nhất, tháng 6 có nhiệt độ cao, độ bốc hơi cao nhất, ảnh hƣởng đến tỉ lệ sống (Zhang S W, 2010).

Trồng rừng ở nơi có sóng gió lớn cần dùng các cọc gỗ hoặc cọc tre để buộc giữ cây bảo vệ cây con, tránh để cây con bị sóng gió làm đổ, Bần không cánh trồng rừng sau 1 năm không bị ảnh hƣởng của sóng gió (Huang L, et al, 2003). Nghiên cứu sinh trưởng của Bần không cánh Tùy từng vị trí gieo ƣơm, tiêu chuẩn chất lƣợng cây con đem trồng mà quyết định thời điểm vào bầu, kích thƣớc bầu thế nào cho phù hợp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ