Đặt vấn đề Cây hoa lan là thực vật thuộc bộ Asparagale, là loài thực vật có hoa. Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, chúng phân bổ khắp nơi trên thế giới. Ho này được chia thành năm phân ho: Orchidoideae, Epidendroideae, Cypripediodeae, Vanilloideae và Apostasiodeae. Hình thái thực vat và hoa da dạng của nó mang lại tầm quan trọng cao về phân loại và trang trí, thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học và nhà làm vườn.
Hiện nay, ngành công nghiệp về lan đang có xu hướng đến một ngành thương mại và phát triển trên phạm vi toàn thế giới, điều đó làm cho cây hoa lan nâng tầm thương mại trên thế giới. Lan được nuôi trồng ở nhiều khu vực khác nhau cùng với quy mô nhỏ lớn khác nhau từ các khu công nghiệp đến các nhà lưới đến các nhà vườn, trại và áp dụng các phương pháp chăm sóc sản xuất từ phương pháp truyền thống đến các phương pháp hiện đại nhất hiện nay. Sự phát triển của cây hoa lan ở một quy mô lớn làm gia tăng các bệnh hại trên cây hoa lan ngày càng được nhiều sự chú ý. Hiện nay, trên thế giới đã phát hiện ít nhất 30 loài virus gây hại cho cây hoa lan được ghi nhận, trong đó có đáng chú ý có hai loại virus đốm vòng ORSV (Odontoglossum ringspot virus) và OFV (Orchid fleck virus) được phát hiện nhiều trên hoa lan ảnh hưởng đến chất lượng của cây hoa lan và giá trị của loài hoa lan.
Việt Nam là một đất nước nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới ở nửa bán cầu Bắc, có khí hậu nhiệt đới âm gió mùa là điều kiện thích hợp cho các loại bệnh phát triển. Cùng việc đó, lan là loài thực vật vừa có thân vừa có giả hanh, giả hành là nơi dự trữ chất dinh dưỡng và nước dé nuôi cây, nơi đây là nơi quan trọng nhất của cây, nên rất dé bị virus xâm nhập và gây hại. ORSV là loài virus chi lây nhiễm qua bề mặt hạt, khi cây mẹ bị nhiễm virus thì sẽ tạo ra các nang bị nhiễm với nồng độ virus cao trên các hạt và các sợi, gây thiệt hại lớn dé cây trồng. OFV là gây nhiễm qua nhện, B.
californicus đóng vai trò là vector chính cho OFV. Vì vay cần có một phương pháp đáng tin cậy, có hiệu quả cao, phát hiện ORSV và OFV nhanh chóng và chính xác nhằm phát hiện cây đã bệnh, đã có biểu hiện hoặc chưa có biểu hiện cách li với khu vực trồng và kiếm biện pháp xử lý. Hiện nay ở nước ta chưa có phương pháp hay một quy trình cụ thé và đáng tin cậy dé có thé phát hiện ORSV và OFV. Với những lí do trên nên tiến hành thực hiện đề tài “Sử dụng kỹ thuật Multiplex RT-PCR chân đoán virus ORSV (Odontoglossum ringspot virus) và OF V (Orchid fleck virus) gay hại trên cây hoa lan”.
Muc tiéu dé tai Tối ưu và hoàn thiện quy trình phát hiện sự hiện diện cua virus ORSV (Odontoglossum ringspot virus) và OFV (Orchid fleck virus) gây hại trên lan bằng kỹ thuật RT-PCR dé phục vụ cho công tác chan đoán nhanh trong phát hiện 2 đối tượng virus gây hại này trên hoa lan. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Tối ưu và hoàn thiện quy trình phát hiện virus ORSV và OFV bằng kỹ thuật Multiplex RT-PCR. Nội dung 2: Ung dụng quy trình dé phát hiện sự hiện diện của các mẫu lan được thu thập tại Nhị Bình, Hóc Mon, Tp. Hồ Chí Minh.
TONG QUAN TÀI LIEU 2. Sơ lược về cây hoa lan `2. Phần loại khoa học Tên khoa học: Phalaenopsis Blume Chi lan: Orchidales Trong hệ thống APG II năm 2009 đặt họ lan trong bộ Asparageles. Do các nghiên cứu vẫn tiếp tục Apostasioideae: 2 chi va 16 loài, tây nam châu A.
Cypripedioideae: 5 chi va 130 loài, khu vực ôn đới của thế giới cũng như nhiệt đới châu Mỹ và châu Á. Vanilloideae: 15 chi và 180 loài, khu vực cận nhiệt đới và ôn đới âm ướt, miền đông Bắc Mỹ. Epidendroideae: khoảng 650 chi và khoảng 18.000 loài, khắp thế giới. Cây hoa lan (Orchid sp.) thuộc họ Phong lan (Orchidaceae) bộ chi lan (Orchidales) lớp một lá mầm (Monocotyledoneace).
Nguồn gốc - phân bố của cây hoa lan Trung tâm dir liệu Thực Vật Việt Nam, lan thuộc họ Orchideceae là một trong những họ lớn nhất của thực vật và có các chi mọc trên toàn thé giới (ngoại trừ Bắc Cực), với môi trường sống đa dạng từ đồng bằng lên vùng núi cao và chỉ nở hoa trên mặt đất, sống trên các vật khác và sử dụng dinh dưỡng từ không khí, có loài tồn tại ở vùng cao nguyên của dãy núi Himalaya. Hoa lan có thể tìm thấy tại các vùng có khí hậu nhiệt đới như trong rừng già của Brasil đến các vùng có tuyết phủ như tại bình nguyên của Manitoba, Canada. Các loài lan chủ yêu mọc trên cây cao, sông biêu sinh lâu năm. Chúng được gọi chung là phong lan.
Bên cạnh đó cũng có các loài mọc trong đất, tức là địa lan và có một số loài mọc trên đá tức thạch lan. Họ phong lan phân bố rộng từ 68° vĩ Bắc đến 56° vĩ Nam, từ gan Bắc cực như Thuy Điển, Alaska, xuống tận các đảo cuối cùng ở cực nam Australia. Tuy nhiên phong lan tập trung ở các vĩ độ nhiệt đới, đặc biệt ở châu Mỹ và Đông Nam Á. Đến nay loài người biết được trên 750 chi với 25.000 loài lan tự nhiên va 75.000 loài lan do kết quả chon lọc và lai tạo.
Vườn thực vật hoàng gia Kew liệt kê 880 chi và gần 22.000 loài được chấp nhận, nhưng số lượng chính xác vẫn không rõ (có thể nhiều tới 25.000 loài) đo các tranh chấp phân loại học. Số lượng loài lan cao gấp 4 lần số lượng loài động vật có vú hay hơn 2 lần số lượng loài chim. Nó chiếm khoảng 6 — 11% số lượng loài thực vật có hoa. Khoảng 800 loài lan mới được bồ sung thêm mỗi năm.
Các chỉ lớn nhất là Bulbophyllum (Khoảng 2.000 loài), Epidendrum (khoảng 1.500 loài), Dendrobium (khoảng 1.400 loài) va Pleurothallis (Khoảng 1. Họ này cũng bao gồm chi Vanilla (chi chứa loài cây vani), Orchis (chi điển hình) và nhiều loài được trồng phổ biến như Phalaenopsis hay Cattleya. Ho Orchidaceae phân bố rộng khắp thế giới, gần như có thé có mặt trong moi môi trường sống, ngoại trừ các sa mạc và sông băng. Phan lớn các loài được tìm thấy trong khu vực nhiệt đới, chủ yếu là châu Á, Nam Mỹ và Trung Mỹ.
Chúng cũng được tìm thấy tại các vĩ độ cao hơn vòng Bắc Cực, ở miền nam Patagonia và thậm chí trên đảo Macquarie, gần với châu Nam Cực. Sự phân bồ của họ này: Nhiệt đới châu Mỹ: 250 - 270 chi. Nhiệt đới châu A: 260 - 300 chi. Nhiệt đới châu Phi: 230 - 270 chi.
Châu Đại Dương: 50 - 70 chi. Châu Âu và ôn đới châu A: 40 - 60 chi. Bắc Mỹ: 20 - 25 chi (Bùi Xuân Dang, 1995). Đặc điểm thực vật học của cây hoa lan 2.
Cơ quan sinh dưỡng Phân loại hoa lan theo đặc điểm hình thái của cây. Dựa vào đặc điểm hình thái chia lan thành 2 nhóm 4 Nhóm phong lan đơn thân: đây là nhóm phong lan chỉ tăng trưởng về chiều cao làm cho cây dài ra mãi. Nhóm phong lan đơn thân chia thành 2 nhóm phụ: Nhóm phụ lá mọc đối (Sarcanthinae): nhóm này lá được xếp thành 2 hang mọc đối nhau, lá trên một hàng xen kẽ với lá của hàng kia. Gồm các giống như: Lan Vanda, lan giáng hương — Aerides, lan hồ điệp — Phalaenopsis,.
Nhóm phụ lá dep thắng hay tròn (Campylocentrinae): Papilionanthe, lan Luisia,. Nhóm phong lan đa thân: đây là nhóm phong lan gồm những cây tăng trưởng liên tục. Căn cứ vào cách ra hoa nhóm này chia thành 2 nhóm phụ: Nhóm ra hoa phía trên: Dia lan — Cymbidium, lan hoàng thảo — Dendrobium, lan vũ nữ — Oncidium,. Nhóm ra hoa ở đỉnh: Lan Cattleya, lan Laelia, lan Epidendrum,.
Ngoài ra còn có một số giống mang tính chất trung gian như: Lan Centropetatum, lan Phackyphlilum, lan Dichaea. Phân loại hoa lan theo môi trường sống Căn cứ vào môi trường sống của phong lan cũng có thé chia thành 3 loại: Dia lan: cây lan sông trong đất hoặc trong giá thê có đặc điểm gần như đất. Phong lan: cây lan sống trong không khí. Bán địa lan: cây lan có thê sông trong môi trường không khí và trong đất.
Các giống lan Việt Nam được trồng phổ biến Hoa lan Ngọc điểm tai trâu — Rhynchostylis gigantea (Lindl. Cây lan ngọc điểm tai trâu có đáng đẹp, mọc khỏe, lá xanh, bóng, cụm hoa sặc sỡ, hương thơm ngào ngạt, nở vào cuối mùa đông, đầu mùa xuân (đặc biệt vào dịp tết Nguyên Đán) nên rất được ưa chuộng. Cây mọc phô biến trong các rừng âm từ Bắc vào Nam, đặc biệt ở các tỉnh miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Lan Ngọc điểm đuôi cáo — Rhynchostylis retusa (L) BL, hoa lan Ngọc điểm đuôi cáo — Rhynchostylis retusa (L) BL, thân lan ngọc điểm đuôi cáo thang mập, lá màu xanh đậm, cụm hoa đài, bông thõng xuống, cuống hoa mập dai 20 — 40cm, hoa xếp dày đặc thành bông mau trắng có đốm tím, cánh môi màu tím.
Hoa nở cuối tháng 4 đến hết tháng 5 sang đầu tháng 6. Cây lan ngọc điểm đuôi cáo mọc rải rác trong các rừng âm từ Bắc vào Nam, từ vùng đồi núi thấp đến vùng núi cao nơi có khí hậu hơi lạnh. Lan Hoang thảo thuỷ tiên — Dendrobium farmeri paxt. Giả hành (thân giả): Chỉ xuất hiện trên các loài lan đa thân.
Giả hành là bộ phận rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của lan. Giả hành tuy là thân nhưng lại chứa diệp lục, đây là bộ phận dự trữ nhiều chất dinh dưỡng rat cần thiết cho sự phát triển của giả hành mới. Giả hành cũng là cơ quan dự trữ nước, do vậy cây lan có thể sống lâu hơn các loài lan đơn thân. Giả hành của các loài khác nhau thì rất khác nhau, ngay trong một loài thi cũng có sự khác nhau giữa các giống: giả hành hình thoi đối với các giống thuộc loài Cattleya hoặc giả hành hình tháp như các giống thuộc loài Cymbidium.
Thân cây lan: Thân vảy giả có nhiều hình dáng khác nhau tùy theo giống lan. Trên thân có đốt, trên mỗi đốt mọc một nhánh lá hoặc là lá bao. Thân là cơ quan dự trữ nước và chất dinh dưỡng, mầm hoa và mam lá đều mọc từ phần gốc của bộ phận thân rễ. Chỉ có các loài don thân và một số loài của giống Dendrobium và Epidendrum vừa có giả hành, vừa có thân.
Các loài lan có thân thường không có cơ quan dự trữ nước và chất dinh dưỡng.