Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lược sử nghiên cứu chim ở miền Bắc Việt Nam Trước năm 1945, hầu hết các nghiên cứu về chim đều được thực hiện bởi các nhà khoa học nước ngoài. Đặc biệt là các tác giả người Pháp, trong đó có 2 tác giả đáng quan tâm nhất là Delacour và P. Từ năm 1945 đến 1954, nghiên cứu về chim đều bị gián đoạn do chiến tranh.
Sau 1954, các công trình nghiên cứu về chim mới được thực hiện trở lại. Đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của các tác giả: Năm 1971, Võ Quý đã công bố công trình “Sinh học các loài chim thường gặp ở Việt Nam”[9], đó là kết quả tổng hợp nghiên cứu hơn 7 năm về đời sống của các loài chim phổ biến ở miền Bắc Việt Nam. Trong cuốn sách này tác giả đã trình bày đầy đủ các đặc điểm về nơi ở, thức ăn, sinh sản và một số tập tính khác của gần 200 loài chim ở miền Bắc Việt Nam. Năm 1975 và 1981, Võ Quý đã xuất bản công trình: “Chim Việt Nam, hình thái và phân loại (tập I, II)” [11].
Đây là công trình nghiên cứu về hình thái và phân loại chim Việt Nam đầy đủ nhất từ trước đến nay. Năm 1983, Võ Quý đã cho xuất bản công trình: “Danh sách Chim Việt Nam. Khu hệ và sinh thái động vật Việt Nam” bằng tiếng Nga. Năm 1999 Võ Quý, Nguyễn Cử đã xuất bản “Danh lục chim Việt Nam” [10], bảng danh lục gồm 19 bộ, 81 họ và 828 loài chim đã tìm thấy ở Việt Nam tính đến năm 1995.
Với mỗi loài, các tác giả đã đưa ra các đặc điểm về hiện trạng và vùng phân bố của chúng. Năm 2000, cuốn “Chim Việt Nam” [7], của tập thể các tác giả Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải, Karren Phillips được biên soạn trên cơ sở “Chim Hồng Kông và Nam Trung Quốc” (1994) của các tác giả Clive Viney, Lam Chin 4 Ying và Karren Phillips. Trong sách, các tác giả đã giới thiệu khoảng 500 loài chim trong tổng số khoảng 850 loài chim hiện ghi nhận ở Việt nam. Mỗi loài tác giả trình bày các nội dung: Mô tả, phân bố, tình trạng, nơi ở và có kèm theo ảnh minh hoạ.
Đây là một trong những cuốn sách được sử dụng phổ biến để nhận dạng các loài chim ngoài thực địa hiện nay. Năm 2007, Lê Đình Thuỷ đã công bố 164 loài chim trong 5 bộ của 19 bộ chim Việt Nam, bao gồm: Bồ nông Pelecaniformes, Hạc Ciconiiformes, Ngỗng Anseriformes, Sếu Gruiformes, Rẽ Charadriiformes. Công trình này được xuất bản trong bộ sách Động vật chí Việt Nam: “Chim Việt Nam-Aves" (Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2007”. Trong đó có nhiều loài chim phân bố ở miền Bắc Việt Nam.
Những năm gần đây, nhiều dự án bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam được tài trợ từ quỹ hỗ trợ của chính phủ nước như: Hà Lan, Úc, Đức. từ các tổ chức phi chính phủ: Tổ chức bảo tồn chim Quốc tế (Birdlife international), tổ chức bảo vệ động thực vật Quốc tế (IUCN), quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), Ngân hàng Thế giới (WB)…Do vậy mà công tác nghiên cứu, bảo tồn đa dạng sinh học ở nước ta ngày càng được quan tâm. Cho đến nay tại hầu hết các Vườn quốc gia (VQG), khu BTTN của Việt Nam, công tác điều tra cơ bản tài nguyên sinh vật, trong đó có tài nguyên chim đã được tiến hành. Những công trình nghiên cứu đã công bố về tài nguyên sinh vật nói chung, nghiên cứu chim nói riêng ở khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia- Pà Cò Cho tới nay, chỉ có rất ít tài liệu điều tra, đánh giá về Tài nguyên sinh vật của khu BTTN Hang Kia-Pà Cò.
Cơ sở dữ liệu đầu tiên về tài nguyên sinh vật được trình bày trong “Luận chứng kinh tế kỹ thuật khu BTTN Hang Kia- Pà Cò huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình” do Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hoà Bình 5 và Liên đoàn qui hoạch thiết kế tổng hợp -Viện Điều tra qui hoạch rừng thực hiện tháng 3 năm 1993. Gần đây tài nguyên sinh vật của khu BTTN Hang Kia-Pà Cò được điều tra bổ sung trong dự án: “Đầu tư, xây dựng và phát triển rừng khu BTTN Hang Kia- Pà Cò, huyện Mai Châu thuộc dự án trồng mới 5 triệu ha rừng năm 2005-2010” do Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hoà Bình thực hiện. Kết quả đã ghi nhận tại khu vực có 64 loài thú thuộc 8 bộ và 24 họ; 146 loài chim, thuộc 15 bộ, 46 họ. Trong công trình này các tác giả đã sơ bộ đánh giá hiện trạng và phân bố của một số loài theo các dạng sinh cảnh của khu vực.
Đặc biệt đã ghi nhận 8 loài chim quý hiếm và có giá trị kinh tế có mặt trong khu vực, như: Diều hoa Miến Điện (Spilornis cheela); Gà so ngực gụ (Arborophila charltonii); Gà lôi trắng (Lophura nycthemera). Mặc dù các thông tin thu được về hiện trạng, phân bố của các loài quý hiếm chủ yếu là qua thông tin từ thợ săn, danh sách các loài ghi nhận còn hạn chế, có thể nói đây là công trình khá đầy đủ về Khu hệ chim khu vực cho đến nay. Nhìn chung, các công trình trên còn chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng tới tài nguyên rừng, đặc biệt là chim rừng của khu vực. Vì vậy những nghiên cứu bổ sung của đề tài này là hết sức cần thiết, đáp ứng nhu cầu thực tế đặt ra.
6 7 Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển Khu BTTN Hang Kia- Pà cò Khu BTTN Hang Kia - Pà Cò là một trong các khu BTTN của hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam, được thành lập theo Quyết định số 194/CT ngày 9/8/1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) và Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Sơn Bình ra quyết định 330 QĐ/UB ngày 16 tháng 10 năm 1990 về việc thành lập Trạm Quản lý bảo vệ rừng Hang Kia - Pà Cò. Điều kiện tự nhiên 2.1 Vị trí địa lý + Địa giới: Khu BTTN Hang Kia - Pà Cò nằm về phía tây bắc tỉnh Hòa Bình thuộc phạm vi của 5 xã là: Hang Kia, Pà Cò, Cun Pheo, Bao La và Tân Sơn thuộc huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình. Khu BTTN nằm trọn trong hai xã vùng cao Hang Kia, Pà cò và một dải rừng trên núi đá vôi còn sót lại (có diện tích không đáng kể) của ba xã Tân Sơn, Cun Pheo và Bao La, chạy dọc theo ranh giới với khu bảo tồn thuộc địa phận xã Tân Sơn và Hang Kia.
+ Ranh giới: Phía Bắc giáp các xã Lóng Luông, Chiềng Yên của huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Phía Nam giáp Xã Cun Pheo, Piềng Vế, Bao La của huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Phía Đông giáp xã Đồng Bảng, Nà Mèo của huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. 8 Phía Tây giáp Xuân Nha, Lóng Luông của huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La Toạ độ địa lý: 200 40’30” đến 200 45’30” độ vĩ Bắc.
104051’20” đến 1050 00’35” độ kinh Đông. Địa hình, địa thế Khu BTTN có 2 dạng địa hình núi đất xen lẫn núi đá vôi, địa hình cao ở phía Tây Bắc, thấp dần về phía Đông Nam, độ cao từ 1.500m đến 800m, trung bình 1.000m so với mực nước biển. Khu vực phía Tây Bắc khu bảo tồn có độ cao trung bình trên 1.100m, đỉnh Pà Khốm 1.526m là đỉnh cao nhất của khu bảo tồn. Vùng giữa và phía Đông Khu bảo tồn có độ cao thấp hơn, trung bình 800 - 1.
Địa hình khu bảo tồn phần lớn là sườn và dông của 4 hệ thống núi chính: + Hệ thống núi đá vôi xen núi đất chạy từ Pà Háng lớn tới xóm Cang, chạy dọc ranh giới xã Pà Cò với xã Lóng Luông của tỉnh Sơn La. + Hệ thống núi đá vôi là ranh giới giữa xã Pà Cò và xã Hang Kia. + Hệ thống núi đá vôi xen núi đất chạy theo hướng từ Bản Cang tới Thung Ẩn, Thung Mặn. + Hệ thống núi đá vôi xen núi đất chạy theo hướng từ Xà Lính xã Pà Cò tới Bò Báu của xã Tân Sơn và Bao La, Piềng Vế.
Các hệ thống núi trên có hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Xen kẽ các dông núi là các thung lũng hẹp và các dải đất dốc tụ chân núi đá, đây là phần đất canh tác quan trọng của đồng bào H’Mông, Thái, Mường của các xã vùng cao này. Địa hình trong Khu bảo tồn không chỉ bị chia cắt do các dãy núi mà còn bị chia cắt bởi nhiều dông núi phụ xuất phát từ các dãy núi trên phát triển 9 về hai bên tạo ra các thung, áng, khe suối cạn và các hố hút nước (do hiện tượng Caster) của vùng núi đá vôi tạo nên. Khu bảo tồn có độ dốc trung bình 20-250, nhiều nơi có độ đốc >350, rất khó đi lại.
Nhìn chung, địa hình khu bảo tồn thuộc loại trung và tiểu địa hình vùng núi. Càng vào sát các đỉnh núi đá vôi, núi càng cao và độ dốc càng lớn, có nhiều sườn núi đá, vách đá dựng đứng. Địa hình phức tạp và bị chia cắt mạnh là yếu tố quan trọng tạo nên sự đa dạng về địa hình, dạng sinh cảnh và thảm thực vật là cơ sở tạo nên tính đa dạng sinh học cao của khu BTTN. Địa chất và thổ nhưỡng Theo Luận chứng kinh tế kỹ thuật (Chi cục Kiểm Lâm Hoà Bình 1993), thì địa chất và thổ nhưỡng trong khu BTTT có một số đặc điểm sau: a.
Địa chất Nền địa chất khu bảo tồn có lịch sử kiến tạo thuộc kỷ Đệ Tam Triassis (Trias), thuộc thời kì Ladini, cách ngày nay khoảng 220 triệu năm. Địa hình kiến tạo chịu nhiều ảnh hưởng của hoạt động tạo sơn Indexin kỷ Trias thuộc đại Trung sinh. Núi đá vôi khu vực có tuổi địa chất trẻ (Kỷ đệ tam), nên các dãy núi ở đây có đỉnh núi nhọn do quá trình bào mòn địa chất tự nhiên không mạnh mẽ. Đá mẹ Đá mẹ trong khu BTTN có 3 nhóm chính: - Đá Trầm tích, Đá vôi, Cuội sỏi kết là đại diện cơ bản, phân bố rộng khắp.
- Đá Mácma axít, với các loại đá phổ biến như Granit, Sa thạch khối, Phấn sa, Đá sét… phân bố rải rác trong KBT. - Đá biến chất với nhiều loại khác nhau, chiếm diện tích nhỏ. 10 Trừ hệ thống núi đá vôi phân bố theo dải, còn các loại đá mẹ khác: Đá sét, Phiến thạch sét, Phấn sa, Sa thạch thô, Cuội kết thường không đại diện, thường phân bố theo vệt, theo vùng nhỏ trên nền Đá vôi cổ. Sự đa dạng về đá mẹ đã tạo ra các loại đất khác nhau, là điều kiện cho nhiều loài cây phát triển.