Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH KHU CÔNG NGHIỆP ĐỒNG VĂN TỈNH HÀ NAM 1. Sơ lược sự ra đời khu công nghiệp ở Việt Nam 1. Khái niệm khu công nghiệp Từ những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, khu công nghiệp (KCN) đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triển. Ban đầu các KCN được xem như một mô hình quy hoạch công nghiệp.
Với quá trình phát triển, KCN đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực, do vậy sau đó KCN được xem như một công cụ để phát triển kinh tế và xuất hiện ngày càng nhiều dưới những hình thức khác nhau. Có thể hiểu và định nghĩa một cách tổng quát về KCN như sau: KCN là một khu đất được quy hoạch lâu dài, có ranh giới địa lý xác định do chính phủ quyết định thành lập hoặc giải thể, được đầu tư xây dựng hệ thống công trình, kết cấu hạ tầng đồng bộ, nhằm hỗ trợ các hoạt động sản xuất - kinh doanh được thuận lợi, đảm bảo sự phát triển bền vững hài hòa giữa 3 mặt lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường. Bên trong KCN chỉ có những DN sản xuất sản phẩm công nghiệp và những dịch vụ công nghiệp, được đầu tư bởi nhiều thành phần kinh tế khác nhau [33]. Vài nét về sự hình thành các KCN ở Việt Nam KCN đầu tiên trên thế giới do một công ty tư nhân của Anh thành lập năm 1896 ở Trafford Park thuộc thành phố Manchester.
KCN Trafford này có thể coi là cha đẻ của tất cả các KCN hình thành sau này. KCN thứ hai là một quận công nghiệp cũng được thành lập bởi một công ty tư nhân ở Mỹ năm 1899. KCN thứ ba trên thế giới là KCN Naples ở Italia được thành lập năm 1904 theo một bộ luật đặc biệt của thành phố Naples. Quá trình phát triển các KCN trên thế giới diễn ra trên quy mô nhỏ, trình độ thấp và sơ sài kéo dài đến tận năm 1950.
Sau đó công nghệ, kỹ thuật xây dựng KCN đã thực sự được phát triển và kéo theo sự quan Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c tâm của toàn thế giới do những tác động tích cực và thành công của nó đem lại. Kể từ đó việc xây dựng các KCN trên thế giới diễn ra với quy mô lớn hơn ở cả những nước công nghiệp phát triển cũng như các nước công nghiệp mới nổi. Hiện nay hầu như các nước trên thế giới đều có những chính sách phát triển các KCN tập trung như một công cụ thu hút đầu tư và là động lực phát triển kinh tế. Ở Việt Nam, tiền thân của các KCN, KCX ở Việt Nam là khu kĩ nghệ Biên Hòa (nay là KCN Biên Hòa I), được thành lập năm 1963.
Bên cạnh đó, tại miền Bắc cũng xây dựng nhiều cụm công nghiệp lớn ở các tỉnh, thành phố như Hà Nội, Thái Nguyên, Phú Thọ… các KCN này ra đời là kết quả của nhiều hoạt động riêng lẻ nhưng có vị trí đặt khá gần nhau. Về công tác tổ chức quản lý do không có Ban Quản lý như hiện nay nên việc quản lý khá lộn xộn. Sau khi giải phóng đất nước và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước sau Đại hội VI của Đảng (năm 1986), những chính sách về phát triển KCN lại được Đảng ta ngày càng chú trọng. Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, trong bối cảnh nền kinh tế và đời sống xã hội nước ta bị tác động mạnh mẽ bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Đại hội VII đã kịp thời và sáng suốt đề ra những đường lối, chủ trương đổi mới mạnh mẽ và toàn diện nền kinh tế, tiến hành CNH, HĐH đất nước, được cụ thể hoá bằng chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 2000.
Hàng loạt các chương trình phát triển kinh tế - xã hội được triển khai để thực hiện Nghị quyết của Đại hội VII, trong đó có chính sách phát triển KCN, KCX. Nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động cho việc hình thành, xây dựng, phát triển và quản lý KCN - KCX, ngày 18/10/1991, Chính phủ đã ban hành Quy chế KCX kèm theo Nghị định 322/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng. Trên cơ sở đó, tháng 11/1991, KCX Tân Thuận tại thành phố Hồ Chí Minh được thành lập, đánh dấu sự ra đời và hoạt động của KCN - KCX đầu tiên ở nước ta. Đến năm 1994, Chính phủ ban hành Quy chế KCN kèm theo Nghị định 192/CP của Chính phủ ngày 28/12/1994, tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành và hoạt động của KCN, KCX Việt Nam.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c Các Nghị quyết của Đảng tại các kỳ Đại hội từ năm 1986 đến nay đã hình thành hệ thống các quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển KCN, KCX; khẳng định vai trò của KCN, KCX là một trong những nền tảng quan trọng để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như Nghị quyết Đại hội X và XI đã nêu rõ. Đồng thời, chủ trương của Đảng là cơ sở để Chính phủ triển khai xây dựng quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển KCN, KCX trong 20 năm qua và trong giai đoạn tới. Trong bối cảnh, chúng ta chưa có kinh nghiệm, lại thiếu tiềm lực về vốn đầu tư, hơn nữa lại chịu sự cạnh tranh gay gắt về thu hút đầu tư nước ngoài với các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia… nên với đường lối chính trị đúng đắn, với chính sách kinh tế mở, việc xây dựng và phát triển các KCN và KCX ở nước ta đã trở thành nhân tố tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hệ thống KCN, KCX ở nước ta gồm nhiều loại hình đa dạng về quy mô, tính chất và trình độ.
Trước hết, với sự ra đời của KCN Tân Thuận - một hình thức sản xuất công nghiệp tập trung ở nước ta, đã tạo được mô hình sản xuất mới có hiệu quả, một mô hình mẫu tiên tiến về cơ chế quản lý một cửa tại chỗ, một mô hình có sức hấp dẫn trong thu hút đầu tư. Với thành công của một KCN đi đầu trong công cuộc đổi mới, KCN Tân Thuận đã tạo sức lan tỏa mạnh trong cả nước, mở ra hướng phát triển, tiền đề mới cho việc phát triển KCN, KCX ở Việt Nam. Nếu trước đây ở miền Bắc, sự phát triển công nghiệp được tập trung thành những khu riêng biệt như Việt Trì - Lâm Thao, Đông Anh - Hà Nội, Thái Nguyên và ở miền Nam công nghiệp tập trung chủ yếu ở Biên Hòa, Đà Nẵng, Cần Thơ. Ngày nay, KCN được xây dựng hầu như ở tất cả các miền (Bắc, Trung, Namvà Tây Nguyên) của đất nước.
Theo báo cáo của Vụ quản lý các KCN thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết tháng 6 năm 2017, Việt Nam có 325 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 94.Các KCN được thành lập trên 59 tỉnh, thành phố của cả nước, được phân bổ trên cơ sở phát huy lợi thế kinh tế, tiềm năng của các vùng kinh tế trọng điểm, của các địa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c phương. Trong thời kỳ CNH - HĐH, việc xây dựng các khu, cụm công nghiệp tập trung là cần thiết và được Nhà nước khuyến khích. Trải qua quá trình hình thành và phát triển, nhiều KCN ở nước ta đã và đang đóng vai trò quan trọng và tạo ra một khí thế phát triển mới cho nền kinh tế cả nước. Tại các vùng hay địa phương có các KCN hoạt động mạnh, mức độ tăng trưởng kinh tế ở đó cao hơn những nơi KCN chưa phát triển.
Đặc biệt, việc phát triển các KCN trong thời gian qua không những thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển, thúc đẩy CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, mà còn đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN. Nhìn chung, quá trình phát triển các KCN ở Việt Nam trong những năm qua đã thể hiện sự đúng đắn trong đường lối phát triển kinh tế của Đảng. Các KCN, KCX đã có những đóng góp không nhỏ trong việc tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao trình độ và hiện đại hóa công nghệ, tăng cường khả năng tổ chức quản lý sản xuất và quản lý nhà nước, từ đó làm giảm chi phí sản xuất, tăng cường năng lực cạnh tranh của sản phẩm trong quá trình hội nhập. Các KCN cũng thể hiện vai trò không thể thiếu trong việc xây dựng và hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN nhằm thích ứng với nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại, nó cũng đặt ra cho các cơ quan quản lý nhà nước những mục tiêu khắc phục các yếu kém, hạn chế, nâng cao hơn nữa hiệu quả và vai trò của KCN trong các giai đoạn tới, góp phần tích cực hơn nữa vào sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội để hình thành các KCN ở tỉnh Hà Nam 1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Tỉnh Hà Nam nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, là cửa ngõ phía nam của Hà Nội, phía Đông giáp tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, phía Nam giáp tỉnh Nam Định và Ninh Bình, phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình. Tỉnh gồm 6 đơn vị hành chính: thành phố Phủ Lý (tỉnh lỵ của tỉnh), huyện Duy Tiên, huyện Kim Bảng, huyện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c Lý Nhân, huyện Thanh Liêm và huyện Bình Lục. Hà Nam nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc - Nam, trên địa bàn tỉnh có quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam chạy qua với chiều dài gần 50km và các tuyến đường giao thông quan trọng khác như Quốc lộ 21, Quốc lộ 21B, Quốc lộ 38. Hơn 4000 km đường bộ bao gồm các đường Quốc lộ, Tỉnh lộ cùng các tuyến giao thông liên huyện, liên xã, thị trấn đã được rải nhựa hoặc bê tông hóa, hơn 200km đường thủy với 42 cầu đường đã được xây dựng kiên cố và hàng nghìn km đường giao thông nông thôn tạo điều kiện thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa trong và ngoài tỉnh.
Tỉnh Hà Nam có ba dạng địa hình là địa hình núi đá vôi, địa hình đồi thấp và địa hình đồng bằng.