Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây xuyên khung 1. Nguồn gốc Xuyên khung có nguồn gốc từ Tứ Xuyên, ngoài ra còn mọc ở Vân Nam, Quí Châu - Trung Quốc, cây đã được trồng từ lâu đời, hiện không còn thấy trong hoang dại. Xuyên khung cũng được trồng nhiều ở Đài Loan, Nhật Bản và Triều Tiên [11].
Vào khoảng năm 1965 – 1966, xuyên khung được nhập vào Việt Nam, lúc đầu cây được trồng thử ở trại thuốc Sa Pa, Nông trường dược liệu Bắc Hà (Lào Cai), sau chuyển sang nông trường dược liệu Sìn Hồ (Lai Châu). Đến năm 1970 cây được phát triển lớn hơn ở 3 khu vực kể trên. Trong đó một số xã ở huyện Sìn Hồ (Lai Châu) đã trở thành nơi sản xuất nhiều xuyên khung với chất lượng tốt nhất ở Việt Nam. Hiện nay được trồng nhiều ở Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Sa Pa (Lào Cai), Đồng Văn (Hà Giang) và một số tỉnh như Lai Châu, Lạng Sơn và Cao Bằng [3], [16].
Phân loại thực vật Xuyên khung có tên khoa học là: Ligusticum wallichii Franch. Xuyên khung thuộc họ hoa tán: Apiaceae. Tên vị thuốc: Xuyên khung. Tên khác: Khung cùng; Tang ky.
Giới (regnum) : Plantae Bộ (ordo) : Apiales Họ (familia) : Apiaceae Chi (genus) : Ligusticum Loài (species) : Ligusticum wallichii Franch 1. Đặc điểm thực vật Xuyên khung là loại cây thảo sống lâu năm, thân cao trên 1 m, mọc thành khóm thân cành rỗng, hình trụ, có đốt, thường có từ 7 – 9 đốt, đốt nổi thành u và n 6 có chồi. Lá mọc so le, hình kép lông chim 2 - 3 lần, có khía sâu, màu lá xanh nhạt, cuống lá có bẹ ôm lấy thân cây dài 10 – 15cm. Sau trồng cây 7 – 8 tháng cây ra hoa, hoa nhỏ mầu trắng, mọc thành tán kép, mỗi tán 10-24 hoa có cuống phụ ngắn dài 1cm, có nhiều cánh, cành tán nỏ có lông nhung.
Quả bế đôi hình trứng tròn có 5 cạnh. Mùa hoa bắt đầu từ tháng 7 - 8; có quả tháng 8 – 9 [3], [5]. Cây xuyên khung Thân củ dùng làm dược liệu hình tròn nhưng không theo một quy cách nhất định nào, có nhiều rễ khi khô vỏ xù xì. Sau khi thu hoạch và rửa sạch thì cắt bỏ toàn bộ rễ con và các mấu thân.
Sau đó đem sấy khô, có thể sấy cả củ hoặc thái thành các lát mỏng. Dược liệu xuyên khung dễ hút ẩm nên sau một thời gian không sử dụng cần đem ra sấy lại để đảm bảo dược liệu giữ được chất lượng tốt, không bị mốc hỏng. Củ (thân rễ) xuyên khung tươi 1. Điều kiện sinh thái Xuyên khung ưa khí hậu ôn hòa mát mẻ quanh năm, nơi có độ cao so với mặt nước biển từ 800 m trở lên.
Nhiệt độ trung bình trong năm từ 15 - 200C, nhiệt độ tối đa 330C, tối thiểu -20C. Lượng mưa hàng năm từ 1500 - 2000 mm, độ ẩm không khí từ 70-90%. Cây ưa đất mầu mỡ, tơi xốp, nhiều mùn, tầng canh tác dầy, độ PH từ 6,5-7,5. Cây không ưa đất nặng, nhiều sỏi đá, độ dốc quá lớn thiếu ánh sáng [13], [15].
Bộ phận dùng làm thuốc Dược liệu là phần củ (thân rễ) phơi hay sấy khô của cây xuyên khung (Rhizoma Ligustici Wallichi), có hình trụ méo mó, nhiều dạng, đường kính từ 2cm đến 5cm, có nhiều u không đều nổi lên. Bề ngoài có màu nâu đất, xù xì, có nhiều nếp nhăn, có vết tích của rễ con thành các bướu nhỏ. Phía đỉnh có vết thân cây bị cắt đi, hình tròn lõm xuống. Chất cứng khó bẻ gẫy, mặt cắt ngang màu n 8 vàng nâu, có vằn tròn và chấm điểm đầu nhỏ mầu vàng.
Có mùi thơm đặc biệt, vị cay đắng, nồng, tê lưỡi [2]. Dược liệu xuyên khung 1. Thành phần hóa học Thành phần chính chứa tinh dầu, dầu béo, một số hợp chất kết tinh, trong một số loài xuyên khung khác có chứa tinh dầu, nhiều phtalid, ligustilid, butylidenphtalid, hợp chất có N như ligustrazin, adenin, adenosin [1]. Trong thân rễ xuyên khung có alcaloid bay hơi trong đó có a xít ferulic, 4 hydroxy-3-butyphthalide, senkyumolide, ligustilide, tetramethyl-pyrazine, chuanxiongol, sedanic acid và chừng 1 – 2% tinh dầu.
Thành phần chủ yếu trong tinh dầu xuyên khung này là a xít cnidium (C12H20O3), este cnidium (C12H19O2-O- C10H17), tinh thể cnidium lacton C12H18O2, axit sedanonic C12H18O3, một chất rượu (C10H17OH) và một chất phenol [3], [11]. n 9 Xuyên khung chứa Chuanxiongzin, Tetramethylpyrazin, Perlolyrin, 1-5- Hydroxymethyl-2-Furyl-9H-pyrido [3,4-b] Indole, Ligustilid, Wallichilid, 3- Butylidenephthalid, 3-Butylidene-7-Hydroxyphthalid, Butylphthalide, 4-Hydroxy- 3-Methoxy styren, 1-Hydroxy-1-3-Methoxy-4-hydroxyphenyl ethan, a xít Hydroxybenzoic, a xít Vanilic, a xít Coffeic, a xít Protocatechuic [9], [32]. Tác dụng dược lý Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về tác dụng dược lý của xuyên khung, sau đây là một số kết quả chính: Tác dụng đối với trung khu thần kinh: Xuyên khung có tác dụng trấn tĩnh hệ thần kinh trung ương. Dùng nước sắc xuyên khung với liều lượng 25-50g/Kg thể trọng cho chuột lớn uống, thấy có khả năng ức chế, kéo dài thời gian ngủ.
Tinh dầu xuyên khung sử dụng với liều nhỏ có tác dụng ức chế đối với hoạt động của đại não nhưng đối với trung khu phản xạ ở tủy sống, trung khu hô hấp và trung khu vận mạch thì lại có tác dụng làm hưng phấn, kết quả sau khi sử dụng làm cho con vật yên tĩnh hơn, tự động vận động giảm xuống, nhưng mặt khác làm cho huyết áp tăng cao, hô hấp và cơ năng phản xạ cũng tăng, nhưng nếu sử dụng với liều quá cao thì lại làm cho đại não bị tê liệt mạnh, huyết áp hạ xuống làm cho các trung khu và phản xạ tủy sống có thể bị ức chế, nhiệt độ cơ thể giảm xuống, hô hấp khó khăn, vận động cơ thể bị tê liệt và có thể gây chết [11]. Đối với tuần hoàn: Tinh dầu của xuyên khung có tác dụng làm tim bị tê liệt, mạch máu ngoại vi giãn ra, làm cho lưu lượng máu ở mạch vành tăng lên, tình trạng thiếu oxy ở tim được cải thiện. Dùng liều lớn có thể làm cho huyết áp hạ xuống [3]. Hai tác giả Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao đã dùng cồn 70 độ và mua nước chiết xuyên khung tại hiệu thuốc Đồng Nhân Đường ở Bắc Kinh để chế thành dung dịch 10% sau đó tiêm vào tĩnh mạch chó, thỏ và mèo đã gây mê và thấy huyết áp hạ xuống rõ rệt.
n 10 Lý Quảng Túy và Kim Âm Xương (1956) đã nghiên cứu 27 loại thuốc YHCT đối với huyết áp trên chó và mèo đã gây mê, thấy rằng Xuyên khung là 1 vị có tác dụng hạ áp rõ và kéo dài dù tiêm mạch máu hoặc bắp thịt đều có tác dụng như nhau [11]. Đối với cơ trơn: Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao (1934) dùng dung dịch nước của xuyên khung thí nghiệm trên tử cung cô lập của thỏ đã có thai. Kết quả cho thấy: Dùng dung dịch nước xuyên khung với liều lượng lớn, tử cung bị tê liệt và đi đến ngừng co bóp. Ngược lại nếu dùng với liều nhỏ dung dịch nước xuyên khung lại có tác dụng kích thích sự co bóp của tử cung thỏ có thai và cuối cùng dẫn đến hiện tượng co quắp.
Các tác giả còn tiến hành tiêm dung dịch xuyên khung liên tục 1 thời gian cho thỏ và chuột bạch có thai thì thấy thai chết trong bụng mà không đẩy ra được. Các tác giả nhận định rằng do xuyên khung gây co bóp tử cung, ảnh hưởng đến dinh dưỡng của thai làm cho thai chết. Các tác giả trên còn cho rằng vì xuyên khung làm dãn mạch máu cho nên không cầm máu được. Người xưa cho rằng xuyên khung có tác dụng điều trị sản phụ bị băng huyết là do xuyên khung có khả năng làm co tử cung, làm cho các mạch máu ở vách tử cung áp chặt vào vách tử cung gây ra cầm máu.
Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao còn nghiên cứu tác dụng của dung dịch nước xuyên khung trên mẩu ruột cô lập của thỏ và chuột bạch. Thấy rằng nếu dùng lượng nhỏ làm tăng nhu động ruột, mẩu ruột co bóp dần dần mà không có khả năng làm cho ngừng hẳn, còn nếu dùng với liều cao thì sự co bóp ở mẩu ruột bị hoàn toàn ngừng hẳn và không khôi phục lại được [11]. Tác dụng kháng sinh: Theo Lưu Quốc Thanh và Trương Duy Tân thì xuyên khung có tác dụng kháng sinh đối với nhiều loại vi trùng như vi trùng thương hàn, vi trùng sinh mủ, n 11 thổ tả, lỵ Sonner. Xuyên khung cũng có tác dụng chống phóng xạ, kháng khuẩn và chống nấm ngoài da, có tác dụng trị chứng thiếu vitamin E [3], [11].
Như vậy, trong xuyên khung phthalid và alkaloid sẽ là các thành phần hoạt tính sinh học chính cho các đặc tính dược lý của nó như chống thiếu máu não, chống thiếu máu cục bộ cơ tim, bảo vệ mạch máu, chống đông máu, chống tăng huyết áp, chống xơ vữa động mạch, chống co thắt , chống viêm, chống ung thư, chống oxy hóa và tác dụng chống hen suyễn, ngăn ngừa, giảm bớt một số thoái hóa võng mạc do thiếu máu cục bộ [20], [38]. Ligustrazin trong xuyên khung có một số tác dụng: + Dự phòng đông máu ở động mạch. + Tác dụng tốt trong điều trị bệnh tắc mạch máu não. + Tác dụng ức chế co bóp tử cung.
+ Tác dụng giãn mạch máu phổi và tăng chất lượng lưu huyết của bệnh tim phổi trong nghẽn phổi mãn tính. - A xít ferulic trong xuyên khung cũng có tác dụng ức chế sự co bóp cơ trơn tử cung. - Tinh dầu xuyên khung có tác dụng kháng khuẩn với một số chủng: Phế cầu, liên cầu tan máu, tụ cầu vàng, trực khuẩn xanh… [11]. Công dụng, liều dùng Trong y học cổ truyền xuyên khung là 1 trong 50 vị thuốc thông dụng, nó có vị cay thơm, tính ấm, vào Can, Đởm, Tâm bào, có tác dụng xúc tác tuần hoàn, lương huyết, tán ứ, giảm đau [3], [16].
Chủ trị: Đau bụng, hòn cục trong bụng, ôn độc phát ban, can uất, đại tiện ra máu, chảy máu cam, mắt đỏ sưng đau, sườn đau, sưng đau do sang chấn, nhọt độc sưng đau, kinh bế, hành kinh [11]. Dùng chữa các chứng bệnh thụ phong, giảm đau, thông huyết, hút mủ, da mọc non, chủ yếu chữa kinh nguyệt không đều, nhức đầu chóng mặt, đau ngực [17]. Hỗ trợ và điều trị ung thư thận [19], [21], [23], [27], [30], [33],[ 35], ung thư vú [24], ung thư gan [17], [22], ung thư tuyến tiền liệt [18]. Cải thiện việc chảy máu n 12 [37].
Rối loạn tuần hoàn máu não [4]. Ức chế tổn thương tế bào nội mô [31]. Tăng hoạt động tế bào cơ trơn [26].