Nghiên cứu đánh giá khả năng phân hủy polylactic axit (PLA) của một số chủng vi sinh vật ở Việt Nam

Nghiên cứu đánh giá khả năng phân hủy polylactic axit PLA của các chủng vi sinh vật phân lập tại Việt Nam, góp phần bảo vệ môi trường.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học

2011

72
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình ô nhiễm môi trường trên thế giới và Việt Nam

1.2. Tình trạng ô nhiễm rác thải nilon

1.3. Một số phương pháp xử lý rác thải

1.3.1. Phương pháp chôn lấp

1.3.2. Phương pháp đốt

1.3.3. Phương pháp xử lý rác bằng con đường sinh học

1.4. Polymer sinh học

1.5. Nhựa sinh học – Khả năng ứng dụng và nhu cầu thị trường

1.6. Một số loại polymer sinh học phổ biến hiện nay

1.7. Ưu, nhược điểm và hướng phát triển của polymer sinh học

1.7.1. Nhược điểm

1.7.2. Các vi sinh vật có khả năng phân hủy polymer sinh học

1.7.3. Cơ chế phân hủy polymer sinh học theo con đường sinh học

2. CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Hóa chất và thiết bị

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp thu thập mẫu

2.2.2. Môi trường phân lập nuôi cấy

2.2.2.1. Môi trường khoáng cơ bản
2.2.2.2. Môi trường LB
2.2.2.3. Phân lập trên môi trường khoáng có bổ sung 0,2% PLA

2.2.3. Phương pháp cấy trải

2.2.4. Phương pháp nuôi cấy lắc

2.2.5. Phương pháp cấy điểm

2.3. Phương pháp xác định, nhận dạng chủng nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp nhuộm Gram

2.3.2. Chụp ảnh trên kính hiển vi điện tử quét

2.3.3. Phương pháp giải trình tự gen mã hóa 16S rARN

2.3.4. Phương pháp xác định hoạt độ một số enzyme ngoại bào

2.3.4.1. Xác định khả năng sinh amylase
2.3.4.2. Xác định khả năng sinh cellulase
2.3.4.3. Xác định hoạt độ catalase
2.3.4.4. Xác định hoạt độ protease

2.3.5. Phương pháp đánh giá khả năng phân hủy PLA

2.3.5.1. Phương pháp đo vòng phân hủy PLA
2.3.5.2. Phương pháp thu hồi PLA
2.3.5.3. Phương pháp tăng khả năng phân hủy PLA
2.3.5.4. Phương pháp tối ưu hóa các điều kiện nhiệt độ, pH, nồng độ muối NaCl

2.3.6. Phương pháp thống kê sinh học

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Phân lập tuyển chọn các chủng vi sinh vật có khả năng phân hủy PLA

3.2. Đặc điểm hình thái của chủng T2

3.3. Phân loại chủng T2 dựa trên trình tự 16S rARN

3.4. Hoạt độ một số enzym ngoại bào của chủng T2

3.4.1. Khả năng sinh amylase

3.4.2. Khả năng sinh cellulase

3.5. Hoạt độ catalase và protease

3.6. Khả năng phân hủy polymer sinh học

3.7. Khả năng phân hủy PLA của chủng Klebsiella variicola T2

3.8. Khả năng phân hủy một số polymer sinh học khác của chủng Klebsiella variicola T2

3.9. Tối ưu hóa các điều kiện phân hủy PLA

3.9.1. Tối ưu khả năng phân hủy PLA từ chủng Klebsiella variicola T2

3.9.2. Tối ưu điều kiện nhiệt độ

3.9.3. Tối ưu điều kiện pH

3.9.4. Ảnh hưởng của NaCl

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về khả năng phân hủy polylactic axit PLA tại Việt Nam

Khả năng phân hủy polylactic axit (PLA) đang trở thành một chủ đề nóng trong nghiên cứu môi trường tại Việt Nam. PLA là một loại polymer sinh học có khả năng tự phân hủy, nhưng tốc độ phân hủy của nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm loại vi sinh vật tham gia vào quá trình này. Nghiên cứu về khả năng phân hủy PLA của vi sinh vật tại Việt Nam không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn mở ra hướng đi mới cho việc ứng dụng các sản phẩm sinh học trong đời sống.

1.1. Tình hình ô nhiễm môi trường và nhu cầu phân hủy PLA

Ô nhiễm môi trường tại Việt Nam đang ở mức báo động, đặc biệt là ô nhiễm do rác thải nhựa. Việc sử dụng PLA như một giải pháp thay thế cho nhựa tổng hợp đang được khuyến khích. Tuy nhiên, khả năng phân hủy của PLA trong môi trường tự nhiên vẫn còn hạn chế, cần có sự can thiệp của các vi sinh vật.

1.2. Vai trò của vi sinh vật trong phân hủy PLA

Vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân hủy PLA. Nghiên cứu cho thấy nhiều chủng vi sinh vật có khả năng phân hủy PLA hiệu quả, giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Các chủng vi sinh vật này có thể được tìm thấy trong đất, nước và bùn, nơi mà chúng có thể phát triển và hoạt động.

II. Thách thức trong nghiên cứu khả năng phân hủy PLA tại Việt Nam

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về khả năng phân hủy PLA, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua. Một trong những thách thức lớn nhất là thiếu thông tin về các chủng vi sinh vật có khả năng phân hủy PLA tại Việt Nam. Ngoài ra, điều kiện môi trường cũng ảnh hưởng đến khả năng phân hủy của PLA.

2.1. Thiếu dữ liệu về vi sinh vật phân hủy PLA

Hiện tại, số lượng công bố nghiên cứu về vi sinh vật phân hủy PLA tại Việt Nam còn hạn chế. Điều này gây khó khăn trong việc xác định các chủng vi sinh vật tiềm năng có khả năng phân hủy PLA hiệu quả.

2.2. Điều kiện môi trường ảnh hưởng đến phân hủy PLA

Các yếu tố như nhiệt độ, độ pH và độ ẩm có thể ảnh hưởng đến khả năng phân hủy PLA. Việc tối ưu hóa các điều kiện này là cần thiết để tăng cường hiệu quả phân hủy của PLA trong môi trường tự nhiên.

III. Phương pháp nghiên cứu khả năng phân hủy PLA của vi sinh vật

Để đánh giá khả năng phân hủy PLA của vi sinh vật, nhiều phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng. Các phương pháp này bao gồm phân lập vi sinh vật, xác định hoạt động enzyme và đánh giá khả năng phân hủy PLA trong điều kiện phòng thí nghiệm.

3.1. Phân lập và xác định chủng vi sinh vật

Quá trình phân lập vi sinh vật từ các mẫu đất và nước là bước đầu tiên trong nghiên cứu. Các chủng vi sinh vật được phân lập sẽ được xác định thông qua các phương pháp sinh học phân tử như giải trình tự gen.

3.2. Đánh giá hoạt động enzyme của vi sinh vật

Hoạt động của các enzyme như amylase, cellulase và protease sẽ được đánh giá để xác định khả năng phân hủy PLA của các chủng vi sinh vật. Các enzyme này đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân hủy polymer sinh học.

IV. Kết quả nghiên cứu khả năng phân hủy PLA của vi sinh vật tại Việt Nam

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số chủng vi sinh vật như Klebsiella variicola có khả năng phân hủy PLA hiệu quả. Kết quả này mở ra hướng đi mới cho việc ứng dụng vi sinh vật trong xử lý rác thải nhựa tại Việt Nam.

4.1. Khả năng phân hủy PLA của chủng Klebsiella variicola

Chủng Klebsiella variicola đã được xác định có khả năng phân hủy PLA trong điều kiện phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy khả năng phân hủy của chủng này có thể đạt tới 70% trong thời gian ngắn.

4.2. Ứng dụng thực tiễn của vi sinh vật trong xử lý PLA

Việc ứng dụng các chủng vi sinh vật có khả năng phân hủy PLA trong xử lý rác thải nhựa có thể giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Các chế phẩm sinh học từ vi sinh vật có thể được phát triển để tăng cường khả năng phân hủy PLA trong tự nhiên.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu phân hủy PLA

Nghiên cứu khả năng phân hủy PLA của vi sinh vật tại Việt Nam đang mở ra nhiều cơ hội mới cho việc xử lý rác thải nhựa. Việc phát triển các chế phẩm sinh học từ vi sinh vật có thể giúp tăng cường khả năng phân hủy PLA, góp phần bảo vệ môi trường.

5.1. Tương lai của nghiên cứu vi sinh vật phân hủy PLA

Nghiên cứu về vi sinh vật phân hủy PLA cần được mở rộng để tìm ra nhiều chủng vi sinh vật mới có khả năng phân hủy hiệu quả hơn. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả xử lý rác thải nhựa tại Việt Nam.

5.2. Ứng dụng công nghệ sinh học trong xử lý rác thải

Công nghệ sinh học có thể được áp dụng để phát triển các chế phẩm sinh học từ vi sinh vật, giúp tăng cường khả năng phân hủy PLA và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Việc này không chỉ mang lại lợi ích cho môi trường mà còn tạo ra giá trị kinh tế cho xã hội.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu đánh giá khả năng phân hủy polylactic axit pla của một số chủng vi sinh vật phân lập ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU "Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường" (Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam). Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ. Ô nhiễm môi trường đang trở thành hiểm họa đối với đời sống của sinh giới và cả đối với con người ở bất kỳ phạm vi nào, từ quốc gia, khu vực đến toàn cầu.

Ô nhiễm môi trường là sản phẩm của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra trên 200 năm nay. Ô nhiễm hiện nay đã lan tràn vào mọi nơi, từ đất, nước đến khí quyển, từ bề mặt đất đến các lớp sâu của đất và của đại dương. Giá nhiên liệu tăng cao và các vấn đề về môi trường hiện là mối bận tâm hàng đầu của nhân loại. Việc sử dụng các sản phẩm từ nhựa polymer có nguồn gốc sinh học để thay thế dần các loại nhựa polymer tổng hợp đang là một hướng rất triển vọng.

Các sản phẩm từ polymer sinh học có ưu điểm là khả năng tự phân hủy thành các thành phần cơ bản không gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên khả năng tự phân hủy của chúng trong đất diễn ra chậm và phải mất nhiều thời gian để quá trình phân hủy bắt đầu xảy ra. Vi sinh vật phân hủy polymer sinh học nói chung luôn tồn tại trong các môi trường tự nhiên khác nhau như đất, nước, bùn. Số lượng, chủng loại các vi sinh vật có khả năng phân hủy polymer sinh học phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên [37, 48, 57].

Kết quả nghiên cứu của Song và cộng sự cho thấy trong 1g đất chứa từ 1,6104 đến 8,7105 tế bào, trong đất bùn là 5,1105 tế bào còn nước biển cũng có từ 102 đến 103 Nguyễn Thị Thanh Lịch 1 Khóa 2009-2011 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học tế bào/ml vi sinh vật có khả năng sử dụng hay phân hủy các loại polymer sinh học khác nhau [44]. Trên thế giới đã có nhiều công bố về các chủng vi sinh vật có khả năng phân hủy polymer sinh học như vi khuẩn, nấm sợi và xạ khuẩn. Ô nhiễm môi trường ở Việt Nam đang là một trong những vấn đề gây nhức nhối với toàn xã hội, trong đó có ô nhiễm do rác thải từ các sản phẩm nhựa. Viê ̣c phát triể n và ứng dụng các sản phẩm polymer si nh ho ̣c vào đời số ng nhằ m giảm thi ểu ô nhiễm môi trường đang ngày càng được quan tâm.

Việc phân lập, tuyển chọn và nghiên cứu các chủng vi sinh vật có khả năng phân hủy polymer sinh học là công việc rất có ý nghĩa góp phần xử lý làm sạch môi trường. Tuy nhiên ở Việt Nam số lượng các công bố điều tra nghiên cứu về vi sinh vật có khả năng phân huỷ các polymer sinh học là không nhiều. Từ những lí do trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đánh giá khả năng phân hủy poly lactic axit (PLA) của một số chủng vi sinh vật phân lập ở Việt Nam” làm cơ sở cho việc ứng dụng trong việc tạo các chế phẩm chủ động trong việc tăng nhanh quá trình phân huỷ tự nhiên và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Nguyễn Thị Thanh Lịch 2 Khóa 2009-2011 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Tình hình ô nhiễm môi trƣờng trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình ô nhiễm môi trƣờng trên thế giới Trong những năm gần đây, nhân loại đã và đang đối đầu với những hiểm họa do ô nhiễm môi trường gây ra. Vấn đề ô nhiễm môi trường không còn là riêng của bất kì quốc gia nào, mà nó đã trở thành mối quan tâm của toàn thế giới. Các nhà hoạt động môi trường tại Anh đã gọi xứ sở sương mù là “hố rác của châu Âu”.

Hiện tại, số lượng rác thải tại Anh mỗi năm tăng trung bình khoảng 3%. Nếu không có những biện pháp hữu hiệu, các bãi rác hiện có tại Anh sẽ hết chỗ chứa sau 9 năm nữa, dẫn tới nguy cơ một cuộc khủng hoảng tương tự như ở Napoli vừa qua. Nguy cơ quá tải của các bãi chứa rác không chỉ là vấn đề của riêng Italia và Anh, mà là của nhiều quốc gia. Liên minh châu Âu (EU) đã buộc phải ra một quy định, bắt buộc các nước thành viên phải giảm bớt nhanh chóng lượng rác thải, cũng như hạn chế đáng kể việc sử dụng lại các bãi rác.

Theo Quyết định số 99/31/EU ngày 26-4- 1999, các thành viên EU đến năm 2010 phải giảm được 25% lượng chất thải chở đến các bãi rác so với mốc thời điểm năm 1995 và đến năm 2020 là 65% [69]. Ngoài những nước đã có được những chiến lược xử lý rác đúng đắn như Đức, Hà Lan và Áo; các quốc gia vùng Bắc Âu cũng đặc biệt coi trọng vấn đề này. Tại Thụy Điển hiện đang rất phổ biến sản xuất phân bón từ rác thải sinh hoạt. Chính vì nhờ biện pháp trên, Thụy Điển đã tăng tỷ lệ rác thải được tái chế lên 49%, đồng thời giảm số lượng rác nói chung xuống tới 19% [69].

Theo số liệu của Cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ chỉ có 55% tổng số rác tại Mỹ được chở tới các bãi rác trong năm 2006. Theo một nghiên cứu của Tổ chức “Hòa Bình Xanh”, đại dương trên khắp thế giới đã trở thành một bãi rác khổng lồ chứa đựng gần 6,5 triệu tấn rác thải (hình 1) [69]. Nguyễn Thị Thanh Lịch 3 Khóa 2009-2011 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học Hình 1. Rác thải xâm lấn đại dương 1.

Tình trạng ô nhiễm môi trƣờng ở Việt Nam Trong khi các nước tiên tiến trên thế giới như Nhật, Mỹ, Anh đầu tư hàng triệu USD tái chế rác thải, thì ở Việt Nam lại nằm trong số những quốc gia đang lãng phí nguồn năng lượng này. Tình hình ô nhiễm trong thời gian gần đây đã trở nên bức xúc, đặc biệt ở 3 thành phố lớn là Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Theo thống kê tại Hà Nội, khối lượng rác thải sinh hoạt tăng trung bình 15%/năm, vởi tổng lượng ước tính 5.000 tấn/ngày đêm, và dự đoán chỉ năm 2012 có thể không còn chỗ để đổ rác (hình 2) [5].

Thành phố Hồ Chí Minh mỗi ngày có trên 7.000 tấn rác thải sinh hoạt. Thời gian gần đây, tình hình xả rác bừa bãi cũng như những bất cập trong khâu xử lý chôn lấp rác thải trở thành vấn nạn ở nước ta [5]. Nguyễn Thị Thanh Lịch 4 Khóa 2009-2011 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học Hình 2. Hà Nội ngập tràn rác thải [5] Theo kết quả khảo sát của Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam cho biết: Ô nhiễm môi trường gia tăng ngày càng mạnh như: ô nhiễm hữu cơ ở các lưu vực sông; ô nhiễm tại các đô thị, các khu, cụm công nghiệp, làng nghề; sản xuất nông nghiệp; vùng ven biển.

Môi trường nước mặt ở hầu hết các đô thị và ở nhiều lưu vực sông bị ô nhiễm chất hữu cơ và các thông số ô nhiễm đặc trưng đều vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, nổi cộm nhất là các lưu vực sông Nhuệ-Đáy, sông Đồng Nai [76]. Tình trạng ô nhiễm rác thải nilon Ngày nay, túi nilon được sử dụng rộng rãi và có phần không kiểm soát được. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà nó mang lại thì những ảnh hưởng của nó đến môi trường và sức khỏe con người cũng không hẳn là nhỏ. Các tác hại chính có thể kể đến là: Thứ nhất: túi nilon gây tác hại ngay từ khâu sản xuất bởi vì việc sản xuất túi nilon phải sử dụng nguyên liệu đầu vào là dầu mỏ và khí đốt, do đó trong quá trình sản xuất nó sẽ tạo ra khí CO2 làm tăng hiệu ứng nhà kính, thúc đẩy biến đổi khí hậu toàn cầu [4].

Nguyễn Thị Thanh Lịch 5 Khóa 2009-2011 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học Thứ hai: việc sử dụng túi nilon sẽ gây tác hại xấu tới sức khoẻ của con người. Túi nilon được làm từ nhựa PVC (poly vinyl clorua) không độc nhưng các chất phụ gia thêm vào để làm cho túi nilon mềm, dẻo, dai lại vô cùng độc hại. Các chất phụ gia chủ yếu được sử dụng là chất hoá dẻo, kim loại nặng, phẩm màu… là những chất cực kỳ nguy hiểm. Chất phụ gia hóa dẻo TOCP (triorthocresylphosphat) có thể làm tổn thương và làm thoái hoá thần kinh ngoại biên và tuỷ sống; chất BBP (butyl benzyl phthalate) có thể gây độc cho tinh hoàn và gây ra một số dị tật bẩm sinh nếu thường xuyên tiếp xúc với nó [4].

Những loại túi nilon tái chế hoặc hộp nhựa, bình nhựa, túi nhựa có thể chứa DOP (dioctin phatalat) cực độc, ảnh hưởng đến cơ quan sinh dục nam. Trẻ em bị nhiễm chất này lâu dài có thể thay đổi giới tính: các bé trai có thể bị nữ tính hóa, vô sinh nam; còn bé gái có nguy cơ dậy thì sớm [4]. Các loại nilon màu nếu sử dụng để đựng thực phẩm tươi sống, đồ ăn chín có thể khiến thực phẩm nhiễm các kim loại như chì, clohydric gây tác hại cho não và là nguyên nhân gây ung thư phổi, gây ngộ độc và ung thư. Thứ ba: Các túi nilon chủ yếu được sử dụng một lần rồi bị thải ra môi trường.

Theo ước tính số nilon con người thải ra trong một năm sẽ phủ kín bề mặt trái đất tấm nilon khổng lồ dày tới 0,8 mm. Chỉ tính riêng nước ta, với con số ướng lượng như trên thì trong một năm số lượng túi trải ra trên bề mặt cả nước là 9,1 chiếc/1m2. Theo khảo sát sơ bộ, năm 2010 trung bình một ngày, Việt Nam xả khoảng 2.500 tấn rác nhựa ra môi trường. Tuy nhiên chỉ một phần nhỏ trong số này được thu gom, tái chế, còn phần lớn bị vứt bỏ khắp nơi.

Việc này không chỉ gây lãng phí về kinh tế mà còn là hiểm hoạ môi trường cho con người [4]: Túi nilon kẹt sâu trong cống rãnh, kênh rạch còn làm tắc nghẽn cống, rãnh, kênh, rạch gây ứ đọng nước thải và gây ngập úng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ