CHƯƠNG I: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TỈNH NAM ĐỊNH 1. Tổng quan về Biến đổi khí hậu 1. Khái niệm và nguyên nhân biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu: là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất.
Biến đổi khí hậu: là sự biến đổi của trạng thái khí hậu do các hoạt động trực tiếp hay gián tiếp của con người gây ra sự thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và nó được thêm vào sự biến đổi khí hậu tự nhiên quan sát được trong các thời kỳ có thể so sánh được. Biến đổi khí hậu: đề cập đến sự thay đổi về trạng thái của khí hậu mà có thể xác định được (ví dụ như sử dụng các phương pháp thống kê) diễn ra trong một thời kỳ dài, thường là một thập kỷ hoặc lâu hơn. Biến đổi khí hậu đề cập đến bất cứ biến đổi nào theo thời gian, có hay không theo sự biến đổi của tự nhiên do hệ quả các hoạt động của con người. Có thể nói rằng, biến đổi khí hậu được xem là tất yếu khách quan, nó thể hiện sự vận động của trái đất.
Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng cho thấy có hai nguyên nhân chính gia tăng biến đổi khí hậu. Thứ nhất, đó là nguyên nhân tự nhiên như: do sự dao động của các nhân tố liên quan đến quỹ đạo chuyển động của trái đất, sự thay đổi của bề mặt trái đất, hàm lượng khí CO2 trong khí quyển, hoạt động của núi lửa, lượng mây, những thay đổi bên trong vỏ trái đất và độ mặn của đại dương. Thứ hai, đó là do các hoạt động của con người đã làm tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển, tạo ra một lượng bức xạ cưỡng bức (tăng thêm) là 2,3w/m2, làm cho bề mặt trái đất và lớp khí quyển tầng thấp nóng lên, mực nước biển trung bình toàn cầu tăng. BĐKH trong thời gian thế kỷ XX đến nay được gây ra chủ yếu do con người, do vậy thuật ngữ BĐKH (hoặc còn được gọi là sự ấm lên toàn cầu-global warming) được coi là đồng nghĩa với BĐKH hiện đại.
Luận văn Thạc sỹ Bùi Thị Thu Hiền - CH20Q11 4 1. Thực trạng biến đổi khí hậu Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC (2007) đã phản ánh sự đồng thuận rộng rãi về mặt khoa học khi cho rằng biến đổi khí hậu là có thật và do con người gây ra. Nhiệt độ trung bình toàn cầu đã trở thành thước đo phổ biến về thực trạng khí hậu toàn cầu. Trong khoảng 100 năm qua (giai đoạn 1906-2005), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,7oC (1,3oF).
Theo IPCC(2007), sự ấm lên của khí hậu là điều chắc chắn. Hàm lượng khí CO2, loại khí nhà kính quan trọng nhất trong bầu khí quyển toàn cầu, dao động ở mức 200-300 ppm trong suốt 800.000 năm qua, nhưng đã tăng lên ở mức khoảng 387 ppm trong 150năm qua, chủ yếu là do đốt nhiên liệu hóa thạch và một nguyên nhân nhỏ hơn là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và thay đổi việc sử dụng đất. Ngoài ra, trong mười năm qua (2001-2010), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã cao hơn 0,5oC so với giai đoạn 1961-1990, mức cao nhất đối với bất kì giai đoạn 10 năm nào kể từ khi bắt đầu quan trắc khí hậu bằng thiết bị đo đạc. Khi nhiệt độ toàn cầu tăng lên, lượng mưa tại các khu vực khác nhau đang thay đổi; các vùng biển ấm lên, băng tại các cực đang tan ra và mực nước biển đang dâng lên.
Các nghiên cứu từ số liệu quan trắc trên toàn cầu cho thấy, mực nước biển trung bình toàn cầu trong thời kỳ 1961-2003 đã dâng với tốc độ 1,8 ± 0,5mm/năm, trong đó, đóng góp do giãn nở nhiệt khoảng 0,42 ± 0,12mm/năm và băng tan khoảng 0,70 ± 0,50mm/năm. Bên cạnh nhiệt độ tăng và mực nước biển dâng, con người cũng đã cảm nhận ngày càng rõ rệt về sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan. Hạn hán và lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn; các cơn bão trở nên mạnh hơn; nhiều đợt nắng nóng hơn; sốngày lạnh, đêm lạnh và sương giá giảm đi, trong khi các đợt nắng nóng ngày càng xảy ra thường xuyên hơn; cường độ của những cơn bão và lốc nhiệt đới đã trở nên nghiêm trọng hơn. Xu hướng biến đổi khí hậu trong tương lai 1.
Kịch bản biến đổi khí hậu Việc dự báo xu hướng biến đổi khí hậu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu dựa vào dự báo về sự phát thải khí nhà kính. Sự phát thải khí nhà kính Luận văn Thạc sỹ Bùi Thị Thu Hiền - CH20Q11 5 này lại phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển kinh tế-xã hội toàn cầu, dân số, thay đổi về công nghệ, tiêu dùng, sản xuất, sử dụng đất và năng lượng. Do đó, nhiều kịch bản biến đổi khí hậu khác nhau đã được xây dựng dựa trên sự thay đổi của các biến số khác nhau. Các kịch bản về biến đổi khí hậu được xây dựng trong khuôn khổ các nghiên cứu của IPCC (2007) dựa trên các dự báo về sự phát thải khí nhà kính từ thấp đến cao và dựa trên các kịch bản phát triển kinh tế-xã hội toàn cầu.
IPCC đã đưa ra một nhóm 6 kịch bản (dựa trên 4 kịch bản gốc) xác định những lộ trình phát thải có thể xảy ra cho thế kỷ 21. Các kịch bản này khác nhau về các giả định liên quan đến: (i)sự phát triển kinh tế ở quy mô toàn cầu; (ii)dân số thế giới và mức độ tiêu dùng; (iii) chuẩn mực cuộc sống và lối sống; (iv) tiêu thụ năng lượng và tài nguyên năng lượng; (v)chuyển giao công nghệ; và (vi) thay đổi sử dụng đất. Bốn kịch bản gốc là A1, A2, B1, B2, với các ký hiệu A: chú trọng phát triển kinh tế; B: chú trọng bảo vệ môi trường; 1: chú trọng tính toàn cầu, và 2: chú trọng tính khu vực. Các kịch bản phát thải khí nhà kính - cơ sở của việc dự báo về tình trạng biến đổi khí hậu trong tương lai - của IPCC (2007) được được tóm tắt ở Bảng 1-1 dưới đây: Bảng 1- 1: Các kịch bản phát thải khí nhà kính Kịch bản gốc A1 Kịch bản gốc A2 • Kinh tế thế giới tăng trưởng nhanh • Kinh tế thế giới tăng trưởng thấp hơn • Dân số thế giới tăng, đạt đỉnh vào năm so với các kịch bản khác và phát triển 2050 và sau đó giảm dần theo định hướng khu vực • Các công nghệ mới phát triển nhanh và • Dân số thế giới tiếp tục tăng hiệu quả • Thay đổi về công nghệ chậm hơn • Thế giới có sự tương đồng về thu nhập và so với các họ kịch bản khác.
cách sống • Thế giới không đồng nhất, các quốc • Có sự tương đồng giữa các khu vực: tăng gia hoạt động độc lập, tự cung tự cấp cường giao lưu về văn hóa xã hội và thu (mức độ toàn cầu hóa thấp) hẹp khác biệt về thu nhập giữa các vùng Họ kịch bản A1 được chia thành 3 nhóm dựa theo mức độ phát triển công nghệ: Luận văn Thạc sỹ Bùi Thị Thu Hiền - CH20Q11 6 A1F1: Tiếp tục sử dụng thái quá nhiên liệu hóa thạch (kịch bản phát thải cao) A1B: Có sự cân bằng giữa các nguồn năng lượng (kịch bản phát thải trung bình) A1T: Chú trọng sử dụng các nguồn năng lượng phi hóa thạch (kịch bản phát thải thấp Kịch bản gốc B1 Kịch bản gốc B2 • Kinh tế phát triển nhanh như kịch bản A1 • Kinh tế phát triển ở mức trung bình nhưng có sự thay đổi nhanh chóng trong • Dân số thế giới vẫn tiếp tục tăng cấu trúc kinh tế theo hướng dịch vụ và trưởng nhưng thấp hơn kịch bản A2 thông tin • Chuyển đổi công nghệ chậm và không • Dân số thế giới đạt đỉnh vào giữa thế kỷ đồng bộ như trong kịch bản B1 và A1 21 và sau đó giảm dần • Chú trọng các giải pháp khu vực về • Phát triển các công nghệ sạch và sử dụng bền vững kinh tế, xã hội và môi trường hiệu quả tài nguyên, giảm cường độ tiêu hao nguyên vật liệu • Chú trọng các giải pháp toàn cầu về bền vững kinh tế, xã hội và môi trường (Nguồn: Kịch bản Biến đổi khí hậu, Nước biển dâng cho Việt Nam; Bộ Tài nguyên &MT, 2012) IPCC khuyến cáo sử dụng các kịch bản phát thải được sắp xếp từ thấp đến cao là: B1 và A1T(các kịch bản phát thải thấp); B2 và A1B (các kịch bản phát thải trung bình); A2 và A1F1 (các kịch bản phát thải cao).Tuy nhiên, tùy thuộc vào nhu cầu thực tiễn và khả năng tính toán của từng nước, IPCC cũng khuyến cáo các quốc gia lựa chọn các kịch bản phát thải phù hợp trong số các kịch bản trên để xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu cho từng quốc gia. Các kịch bản phát thải chính là cơ sở để dự đoán xu hướng biến đổi khí hậu trong tương lai. Xu hướng biến đổi khí hậu trên thế giới Trong một vài thập kỷ tới, nhiệt độ trung bình toàn cầu dự kiến sẽ tăng 0,2- 0,3oC mỗi thập kỷ. IPCC (2007), trên cơ sở 6 kịch bản xác định những lộ trình phát thải có thể xảy ra, đã xác định các mức thay đổi nhiệt độ có thể xảy ra trong thế kỷ 21.
Theo các kịch bản này, nhiệt độ trung bình thế giới đến năm 2080 sẽ tăng từ Luận văn Thạc sỹ Bùi Thị Thu Hiền - CH20Q11 7 2,3oC đến 4,5oC so với nhiệt độ thời kỳ tiền công nghiệp hóa. IPCC dự kiến mức tăng 3oC là hệ quả có khả năng xảy ra nhất, nhưng cũng không loại trừ các giá trị vượt xa con số 4,5oC, thậm chí nhiệt độ toàn cầu có thể tăng thêm 5oC. Như vậy,không có kịch bản nào của IPCC cho thấy sự gia tăng nhiệt độ ở mức dưới 2oC - là ngưỡng mà quá trình biến đổi khí hậu trở nên nguy hiểm. Theo Báo cáo Phát triển Thế giới năm 2010, nếu không thực hiện các nỗ lực giảm thiểu biến đổi khí hậu hiệu quả thì đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ tăng từ 2,5oC đến 7oC so với thời kỳ tiền công nghiệp hóa.