Đặt vấn đề Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu về thực phẩm của con người ngày một nâng cao. Việc lựa chọn thực phẩm giờ đây không chỉ giới hạn trong việc đáp ứng nhu cầu ăn uống, mà quan tâm nhiều hơn tới những lợi ích cho sức khỏe mà thực phẩm mang lại. Trong thời gian gần đây, các nhà khoa học đặc biệt quan tâm tới chất chống oxy hóa có trong thực phẩm. Đây là một loại hợp chất có khả năng kiểm soát hàm lượng ổn định của các gốc tự do trong cơ thể, mang lại nhiều lợi ích tốt cho sức khỏe con người: Làm chậm quá trình lão hoá, ngăn ngừa tai biến, chống viêm, bảo vệ chức năng của hệ thần kinh, giảm thiểu các tác nhân gây ung thư và điều trị bệnh Alzheimer, Parkinson.
Thực vật được con người biết đến như một nguồn chứa các chất chống oxi hóa tự nhiên tuyệt vời, do có chứa: Phenolic, flavonoid, tanin, quinine, carotenoit. Trong đó cây Thổ nhân sâm (Talinum paniculatum) từ lâu đã được nhân dân ta sử dụng như một loại thuốc, một loại thực phẩm trong bữa cơm hằng ngày. Nhận thức thấy đây là một loại nguyên liệu rẻ tiền và có giá trị dược liệu cao. Tuy nhiên, tại nước ta vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về cây Thổ nhân sâm cũng như phương pháp thu nhận các chất chống oxy hóa trên đối tượng này.
Vậy nên, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu và đánh giá khả năng chống oxy hóa trong dịch chiết củ cây Thổ nhân sâm (Talinum paniculatum)” nhằm xác định khả năng chống oxy hóa, cũng như khảo sát các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu suất trích ly. Từ đó tìm ra điều kiện trích ly tối ưu để thu nhận chất chống oxy hóa trong củ Thổ nhân sâm. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích nghiên cứu Cung cấp dữ liệu về khả năng chống oxy hoá trên củ Thổ nhân sâm, đồng thời giải thích những lợi ích với sức khỏe con người do đối tượng mang lại.
Tạo tiền đề, cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu các sản phẩm mĩ phẩm, dược phẩm có liên quan. Yêu cầu Xác định hiệu suất chiết cao toàn phần và giá trị IC50 của cao chiết củ cây Thổ nhân sâm. Tìm ra nồng độ, tỉ lệ dung môi nguyên liệu, nhiệt độ và thời gian trích ly mà tại đó hiệu suất thu nhận các chất chống oxy hóa trong củ Thổ nhân sâm tối ưu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.
Tổng quan về cây Thổ nhân sâm 2. Vị trí phân loại, vùng phân bố a. Vị trí phân loại Thổ nhân sâm (Talinum paniculatum) hay Sâm mùng tơi, Sâm đất, Sâm thảo, Thổ cao ly sâm. Đồng danh: Portulaca paniculata Jacq., Portulaca patens Jacq., Talinum patens (Jacq.
Vị trí phân loại của Thổ nhân sâm được thể hiện dưới hình 2.1 Sơ đồ vị trí phân loại thực vật của Thổ nhân sâm b. Vùng phân bố Thổ nhân sâm có nguồn gốc từ Trung Mỹ, du nhập vào Việt Nam khoảng năm 1909 (Minh Phúc, 2013). Ở Việt Nam, Thổ nhân sâm mọc dưới 3 dạng bán hoang dại, thường được dùng để làm thuốc, lấy rau ăn hoặc trồng làm cảnh. Được gặp nhiều ở các tỉnh: Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hải Phòng, Nghệ An.
Cây cũng được tìm thấy ở một số tỉnh của Trung Quốc như: Triết Giang, Giang Tô, An Huy, Quảng Tây, Quảng Đông, Tứ Xuyên (Đỗ Tất Lợi, 2004). Đặc điểm sinh học 2. Mô tả hình thái Thổ nhân sâm là cây thân thảo mọc đứng có thể cao tới 0.6m, thân cây màu xanh, nhẵn, phân nhánh ở gốc. Đặc điểm hình thái cây Thổ nhân sâm được thể hiện qua hình 2.2 Cây Thổ nhân sâm Chú thích: (A) cụm hoa; (B) thân, lá;(C) rễ, củ;(D) cây Thổ nhân sâm ngoài tự nhiên.2 ta có thể thấy: Gốc cây Thổ nhân sâm có mầu nâu đen hơi hóa gỗ (hình 2.
Rễ to mọng nước và nhiều thịt giống nhân sâm (hình 2. Lá mọc so le, hình trái xoan thuôn hay hình trứng ngược, thót lại ở gốc thành cuống rất ngắn, dài 5 – 7cm, rộng 2.5cm, phiến lá dày, hơi mập, bóng cả hai mặt, mép lá hầu như lượn sóng (hình 2. Cụm hoa là một chùy kép mọc ở đầu cành, gồm nhiều hoa nhỏ đường kính ước chừng 6mm xếp thành chùm thưa ở ngọn thân và các nhánh, dài khoảng 30cm, tràng 5 cánh hoa màu tím đỏ nhạt, đài có hai răng nhỏ, tràng năm cánh nhọn, nhị nhiều, bầu thượng hình cầu (hình 2. Quả nhỏ, khi chín có màu đỏ nâu hay xám tro vân hơi nổi.
Hạt rất nhỏ, dẹt, màu đen nhánh. Mùa ra hoa tháng 6 – 7, có quả tháng 9 – 10 (Minh Phúc, 2013). Đặc điểm sinh thái và trồng trọt Thổ nhân sâm được biết tới như một loại rau nhiệt đới. cây ưa đất ẩm và cường độ ánh sáng cao, mọc rất khỏe, ít sâu bệnh.
Có thể trồng trong vườn, trong chậu cảnh hay thùng xốp. Cây rất dễ trồng có thể trồng từ rễ củ hoặc từ hạt. Thổ nhân sâm không kén đất, đất nào cũng mọc được trừ những nơi ngập úng. Đất cày bừa lên thành luống cao 20 – 25cm, bón lót 10 – 15 tấn/ha phân chuồng, rạch thành hàng cách nhau 20cm.
Hạt gieo theo hàng, sau tỉa bớt, giữa các cây cách nhau khoảng cách 10 – 15cm. Đất trồng pha trộn theo tỷ lệ: 80% đất thịt + 10% tro trấu hoặc rơm mục + 10% phân chuồng ủ hoai. Tưới nước thường xuyên duy trì độ ẩm của đất đặc biệt vào mùa khô hạn. Thường xuyên làm cỏ, xới xáo, vun gốc, bón thúc bằng nước phân chuồng, nước giải hoặc đạm pha loãng.
Kết hợp nhổ cỏ dại và phòng trừ sâu xám ăn lá và chồi non (Nguyễn Đức Toàn, 2002). Thu hái và chế biến Thổ nhân sâm sau khi trồng 2 – 3 tháng đã có thể thu hái phần ngọn và lá làm rau ăn, sau một năm thì có thể thu hoạch rễ củ, nhưng sau ba năm thu hoạch củ sẽ tốt hơn, to hơn. Củ khi mới đào lên có màu hồng, khi phơi hay sấy khô sẽ có màu đen xám. Sau khi thu hoạch cắt rễ con, bỏ đầu, để cả vỏ thái miếng sấy nhẹ lửa (60 – 70oC) cho khô là có thể sử dụng luôn.
Còn muốn để trong thời gian dài thì hấp chín, bỏ rễ con, để cả củ (hoặc thái miếng), sấy nhẹ lửa cho khô. Khi dùng thái mỏng, tẩm nước gừng hoặc nước đường, nấu chín (Nguyễn Đức Toàn, 2002). Lá thu hoạch quanh năm. Lá và cành non dùng để nấu với thịt, tôm.
Nấu canh rau vị thơm mát dễ chịu gần giống rau mùng tơi (Đỗ Tất Lợi, 2004). Thành phần hóa học và giá trị dược liệu 2. Thành phần hóa học Thành phần các chất hóa học có trong lá: Trong lá Thổ nhân sâm có galactogue, tanin (Yulia et al., 2005) và 12 thành phần hợp chất: hiodrocarbon hentriacontane; dotriacontane; tritriacontan; pentatriacontan axit heneicosanoic; este nonacosyl nonacosanoat; urê; 3-0-B-Dglucosyl-ß- sitosterol; B-sitosterol; stigmasterol; axit pentaciclyc triterpene 3-0-acetyl- aleuritolic; kali nitrat (Ramos et al. Ngoài ra, trong lá cây có 4 loại phytosterol: B-sitosterol (10,6%), stigmastanol (2,76%), stigmasterol (0,85%), campesterol (0,8%) và các chất khác như phytol (69,32%), a-tocopherol (0,99%), acid béo (0,43-3,41%) theo Catthareeya et al.
Giá trị dinh dưỡng trong lá Thổ nhân sâm khô được thể hiện dưới bảng 2.1 (Menezes at el.1 Giá trị dinh dưỡng trong lá Thổ nhân sâm khô Giá trị dinh dưỡng trong 100g Tổng số carbohydrate 16,45 ± 0,76 g Chất đạm 18,61 ± 0,47 Lipid 6,58 ± 0,11 Chất xơ hòa tan 1,19 ± 0,24 Chất xơ không hòa tan 34,75 ± 0,66 Tổng chất xơ 35,94 ± 0,90 Tro 22,42 ± 0,08 Tổng giá trị năng lượng 199,46 kcal Khoáng chất và hàm lượng axit ascorbic Mg 649.43 7 Thành phần các chất hóa học có trong rễ: Rễ của cây Thổ nhân sâm rất giàu chất saponin steroid và có thể được sử dụng với nhiều mục tiêu khác nhau trong y học. Các chiết xuất từ rễ của Thổ nhân sâm có thể cải thiện khả năng sinh sản của chuột có lượng testosterone thấp tốt hơn nhiều so với chiết xuất từ nhân sâm Hàn Quốc (Yosephine at el. Các phân tích về thành phần hóa học chính trong cây Thổ nhân sâm tương tự với Nhân sâm Trung Quốc và Hàn Quốc, do đó Thổ nhân sâm đã được sử dụng để thay thế cho Nhân sâm (Yulia et al. Phân tích GC/MS của dịch chiết xuất từ rễ cho thấy sự xuất hiện của 5 phytosterol bao gồm: B-sitosterol (17,37%), stigmasterol (4,23%), stigmastan-3-ol (4,10%), stigmast-22-en-3-ol (1,84%) và campesterol (1,56%); có 12 hợp chất thuộc loại axit béo (0,50% ‒ 11,32%) và 2 hợp chất không xác định tên đã được xác định hàm lượng.
Ngoài ra, trong lá và rễ còn có chứa các thành phần hợp chất như: Alkaloid (berberine, coptisine, piperine, palmatine, tetrahydropalmatine), flavonoid (chrysin, quercetin, rutin, kaempferol, cyadinin, genistein, diadzien), sapoin (ginsenoside, vinaginsenoside-R5 và vinaginsenoside-R6), totarol, ellagitannin, gallotamine, axit gallic, axit hexahydroxydiphenic (Catthareeya et al. Giá trị dược liệu Cây Thổ nhân sâm có chứa các hợp chất như phytosterol, saponin, tanin, steroid. Đây là những chất đã được khẳng định về những lợi ích mang lại cho sức khỏe con người. Trong đó phytosterol được biết đến như một chất có hoạt tính ức chế sinh sản, steroid saponin có tác dụng phòng và chữa bệnh xơ vỡ động mạch, là nguyên liệu để tổng hợp hormone sinh dục (Thanamool et al.
8 Ở nước ngoài, lá và bột rễ cây Thổ nhân sâm được dùng để điều trị bệnh viêm da và tổn thương bề mặt da, bệnh thần kinh và viêm khớp. Tại Việt Nam, dân ta thường sử dụng củ Thổ nhân sâm dung làm thuốc bổ chữa suy nhược, thể hư ra nhiều mồ hôi, tỳ hư, tiêu chảy, đái dầm, kinh nguyệt không đều, thiếu sữa (Đỗ Tất Lợi, 2004). Một số bài thuốc theo kinh nghiệm dân gian (Đỗ Tất Lợi, 2004): Chữa tiểu tiện nhiều, hỗ trợ đái tháo đường: Thổ nhân sâm 60g, kim anh tử 60g, các vị trên cho vào ấm đổ 550ml nước, sắc nhỏ lửa còn 250ml nước chia 2 lần uống trong ngày, 5 ngày một liệu trình. Ta cũng có thể dùng Thổ nhân sâm 40g, sắc nước uống trong ngày, cho vào ấm đổ 400ml nước, sắc nhỏ lửa còn 150ml nước chia 2 lần uống trong ngày, 10 ngày một liệu trình sẽ giúp bổ khí huyết – chữa khí huyết yếu, người xanh gầy, thở yếu, hồi hộp, ít ngủ, kém ăn, mệt mỏi.
Với bệnh đại tiện lỏng do tỳ hư, ta dùng 30g Thổ nhân sâm, đại táo 15g, cho vào ấm đổ 550 ml nước, sắc uống thay trà trong ngày. Ngoài ra Thổ nhân sâm còn được dùng để hỗ trợ điều trị cho người ho lâu ngày: Thổ nhân sâm, hà thủ ô trắng, thông thảo, mỗi vị 20g, gà một con nhỏ tương đương với 400g.