CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU 1. Hướng tiếp cận nghiên cứu: Để nghiên cứu vấn đề “Một số yếu tố ảnh hưởng tới kết quả học tập của sinh viên ở các trường đại học theo mô hình đào tạo tín chỉ tại Tp HCM hiện nay” , tác giả sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật lịch sử kết hợp với cách tiếp cận hệ thống trong xã hội học nhằm tăng tính sát thực và mức tin cậy của đề tài, làm cho những nghiên cứu của đề tài mang tính khoa học, chặt chẽ. Theo cách tiếp cận hệ thống, hiệu quả học của SV là sự phản ánh chất lượng của quá trình dạy và học trong nhà trường, nó có mối quan hệ với các quá trình này và chịu sự tác động của nhiều thành tố bộ phận cấu thành nên quá trình dạy và học. Đối tượng hướng tới nghiên cứu là các yếu tố tác động tới hiệu quả học của SV, trong đó, tập trung hướng nghiên cứu chính làm sáng tỏ những yếu tố chủ quan của cá nhân trong quá trình học, tuy nhiên kết quả học tập còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như cách thức giảng dạy và phương pháp giảng dạy của giáo viên, sự trang bị về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc học, kỹ năng hướng dẫn, xắp xếp trong công tác tổ chức của mỗi trường, mà các yếu tố này ở các trường đào tạo theo niên chế khác với các trường đào tạo theo học chế tín chỉ.
Vì vậy muốn đưa đến một kết quả nghiên cứu hoàn chỉnh, cần phải đặt các thành tố này nằm trong môi trường học tập đại học đang áp dụng mô hình đào tạo tín chỉ. Một số khái niệm cơ bản: Sinh viên: thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếng la tinh: student, nghĩa là người làm việc nhiệt tình, hăng say để tìm kiếm, khám phá kho tàng tri thức của nhân loại, nó được dùng để chỉ những người đang theo học ở bậc đại học, cao đẳng và để phân biệt với học sinh phổ thông. ( Một số yếu tố tâm lý cơ bản trong 13 tự học của sinh viên cao đẳng Sư phạm, luận án Tiến sĩ Tâm lý học, Trần Thị Minh Hằng, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, 2003, trang 45) Sinh viên là một bộ phận trong tầng lớp thanh niên với đặc tính ưu trội về mặt xã hội, một bộ phận tương lai của tầng lớp trí thức, sinh viên là một trong những lực lượng quan trọng trong sự nghiệp cách mạng và trong chiến lược phát triển con người. Đối với Đảng ta, cùng với thanh niên, sinh viên cũng được đánh giá cao trong sự nghiệp cách mạng của đất nước.
Học tập: là một hoạt động đặc thù của con người, được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động dạy và được điều khiển bởi mực đích tự giác là lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, những hình thái hành vi và những dạng hoạt động nhất định, biến chúng thành năng lực thể chất và năng lực tinh thần cho mỗi cá nhân ( Một số yếu tố tâm lý cơ bản trong tự học của sinh viên cao đẳng Sư phạm, luận án Tiến sĩ Tâm lý học, Trần Thị Minh Hằng, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, 2003, trang 43) Việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên là đánh giá tất cả mọi yếu tố tác động trực tiếp tới kết quả học tập của sinh viên.Và kết quả học của sinh viên có thể được đo bằng nhiều tiêu chí, nhưng trong đề tài này, tác giả chỉ xem xét kết quả học qua điểm tổng kết cuối kỳ và số lượng sinh viên ra trường theo từng mức độ hoàn thành chương trình học so với thời gian tối thiểu qui định của mỗi trường (nhanh hơn tiến độ, đúng tiến độ, chậm tiến độ). Nhận thức: là quá trình hoặc kết quả phản ánh tái hiện hiện thực vào trong tư duy, nhận biết và hiểu biết thế giới khách quan. Trong khuôn khổ đề tài, nhận thức của sinh viên là sự hiểu biết của sinh viên về những yêu cầu mà quá trình học đòi hỏi ở người học, nhận biết được những đặc điểm về năng lực, tính cách của chính mình, hiểu được những nhu cầu, mong muốn của mình ở môi trường học đại học, và từ đó biết cách quản lý, lập kế hoạch học tập riêng phù hợp để phục vụ cho mục đích đã xác định. 14 Thái độ: tổng thể nói chung những biểu hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động) hoặc ý nghĩa, tình cảm đối với ai, hoặc đối với sự việc nào đó.
Động cơ: ( Một số yếu tố tâm lý cơ bản trong tự học của sinh viên cao đẳng Sư phạm, luận án Tiến sĩ Tâm lý học, Trần Thị Minh Hằng, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, 2003, trang 37) là những nguyên nhân bên trong thôi thúc con người hành động để thõa mãn một nhu cầu nào đó. Hành động của con người có thể do một hoặc nhiều động cơ. Động cơ là cái thúc đẩy con người hành động đạt được mục đích nhất định. Động cơ của sinh viên bao gồm một hệ thống động cơ với những thứ bậc khác nhau: đạt thỏa mãn nhu cầu, hoàn thành nhiệm vụ tự học để khỏi bị phê bình, học tập tích lũy tri thức phục vụ cho công việc hoặc ngành nghề của mình sau này.Petrovxki động cơ có hai loại cơ bản: bên trong và bên ngoài.
Động cơ bên trong là những động cơ có nguồn gốc từ bên trong cá nhân, còn động cơ bên ngoài là những động cơ có nguồn gốc từ các yếu tố bên ngoài. Động cơ bên trong có tác dụng lôi kéo tới mục đích, còn động cơ bên ngoài thúc đẩy vươn tới mục đích. Theo Nguyễn Trạc và Phạm Thành Nhị, động cơ học tập của sinh viên gồm năm nhóm chính và được xếp theo các thứ bậc: động cơ nhận thức khoa học, động cơ nghề nghiệp, động cơ xã hội, động cơ tự xác định mình, động cơ vụ lợi. Sự hình thành của động cơ học tập chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, đáng chú ý là vai trò của nội dung, chương trình học tập, phương pháp dạy học, phong cách và nhân cách của thầy giáo.
Việc tổ chức lại các yếu tố kể trên, nhất là việc thường xuyên quán xuyến mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ học tập có tác dụng lớn trong việc hình thành động cơ học tập đúng đắn cho sinh viên. Phương pháp dạy học: ( Một số yếu tố tâm lý cơ bản trong tự học của sinh viên cao đẳng Sư phạm, luận án Tiến sĩ Tâm lý học, Trần Thị Minh Hằng, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, 2003, trang 37) là những cách thức hành động chung thống nhất của thầy và trò để tổ chức quá trình nhận thức của học sinh nhằm đạt 15 được mục đích dạy học để xác định được phương pháp dạy học là cách thức tự tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh ( learning method). Tín chỉ: Hiện nay có khá nhiều định nghĩa về tín chỉ, ở đây xin nêu cách hiểu được đề cập trong “Qui chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính qui theo hệ thống tín chỉ” (thường gọi là Qui chế 43): Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên. Một tín chỉ được qui định bằng 15 tiết học lý thuyết, 30 – 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 – 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 – 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án tốt nghiệp.
Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.(Qui chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính qui theo hệ thống tín chỉ, Bộ giáo dục và đào tạo, trang 2) Định nghĩa chính thức về tín chỉ phổ biến ở Mỹ và một số nước: khối lượng học tập gồm một tiết học lý thuyết (50 tiết) kéo dài trong một tuần lễ và kéo dài trong một học kỳ (15-18 tuần) thì được tính 1 tín chỉ. (Chương trình và quy trình đào tạo đại học , Lâm Quang Thiệp, Lê Viết Khuyến,. trích: "Một số vấn đề về Giáơ dục đại học", NXB ĐHQG Hà Nội, 2004). Học theo tín chỉ còn được qui định: để chuẩn bị cho 1 tiết lên lớp, sinh viên phải bỏ ra ít nhất 2 giờ làm việc ngoài lớp.
Các tiết học loại khác như: thực tập thí nghiệm, di thực địa, vẽ, nhạc, thực hành nghệ thuật, thể dục,.thì thường cứ 3 tiết trong 1 tuần kéo dài một học kỳ được tính là 1 tín chỉ. Hệ thống tín chỉ cho phép SV đạt được văn bằng đại học qua việc tích luỹ các loại tri thức giáo dục khác nhau được đo lường bằng một đơn vị xác định, căn cứ trên khối lượng lao động học tập trung bình của một sinh viên, gọi là tín chỉ (credit). Những đặc điểm của hệ thống tín chỉ 1. Đòi hỏi SV phải tích luỹ kiến thức theo từng học phần (đơn vị: tín chỉ).
Kiến thức cấu trúc thành các mô đun (học phần). Quy định khối lượng kiến thức phải tích luỹ cho từng văn bằng. Xếp năm học của người học theo khối lượng tín chỉ tích luỹ. Chương trình đào tạo mềm dẻo: cùng với các học phần bắt buộc còn có các học phần tự chọn => cho phép sinh viên dễ dàng điều chỉnh ngành nghề đào tạo.
Đánh giá thường xuyên, thang điểm chữ. Dạy học lấy sinh viên làm trung tâm 7. Đơn vị học vụ là học kỳ. Mỗi năm có thể chia thành 2 học kỳ (15 tuần), 3 thọc kỳ (15 tuần) hoặc 4 học kỳ (10 tuần).
Ghi danh học đầu mỗi học kỳ, lớp học tổ chức theo mỗi học phần 9. Có hệ thống cố vấn học tập. Có thể tuyển sinh theo học kỳ. Không thi tốt nghiệp, không tổ chức bảo vệ khóa luận tốt nghiệp đối với các chương trình đại học và cao đẳng.
Chỉ có 1 văn bằng chính quy với 2 loại hình tập trung và không tập trung. Từ cách hiểu trên, mỗi trường đại học sẽ xác định các đặc điểm của phương thức đào tạo theo tín chỉ để từ đó có định hướng chỉ đạo hoạt động đào tạo của trường mình. Đại học quốc gia: (Từ điển bách khoa Việt Nam, T. - H : Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, 1995, trang 816 ) là nơi đào tạo và nghiên cứu khoa học đa ngành lớn, chất lượng cao của cả nước, được thành lập trên cơ sở sắp xếp và tổ chức lại 1 số trường đại học và viện nghiên cứu khoa học thuộc một vùng lãnh thổ của cả nước ta.