Chương 1: lý luận cơ bản về huy động vốn và kế toán huy động vốn của Ngân hàng thương mại 1. Khái quát chung về hoạt động của ngân hàng thương mại: 1. Khái niệm, chức năng của ngân hàng thương mại: a. Khái niệm về NHTM: Quy định tại khoản 2 điều 1 nghị định số 49/2000/NĐ-CP thì NHTM được đề cập như sau: “NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước”.
Từ quan niệm trờn thỡ NHTM là loại hình NH hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận thông qua việc kinh doanh các khoản vốn. Khái niệm về NHTM đang được thay đổi vì sự pha trộn các hoạt động truyền thống của NH với các loại hình trung gian tài chính khác. Chức năng của NHTM: * Chức năng trung gian tín dụng: NHTM mặt thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay đối với các thành phần kinh tế trong xã hội “ đi vay để cho vay ”. Thông qua sự điều chuyển này thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
điều hòa lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát. * Chức năng trung gian thanh toán: Nếu như mọi khoản chi trả của xã hội đều được thực hiện trực tiếp giữa bên mua và bên bán thì chi phí thực hiện là rất lớn, bao gồm: chi phí in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền… Với sự ra đời của ngân hàng thương mại các khoản chi dần được thực hiện qua ngân hàng với những hình thức thanh toán phù hợp, đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện, an toàn, tiết kiệm hơn. Chức năng trung gian thanh toán huy động tiền gửi, tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Kế Toán huy động vốn tại NHNo&PTNT huyện Hiệp Hòa - Thực trạng và Giải pháp Chuyên đề tốt nghiệp 4 Lê Đình sáu – K34H * Chức năng tạo tiền: Từ một số tiền gửi ban đầu của các Ngân hàng có khả năng khuếch đại tiền gửi tạo thành một số tiền gửi lớn hơn nhiều so với tiền gửi ban đầu, thông qua việc cho vay và thanh toán chuyển khoản, việc thanh toán không dùng tiền mặt góp phần gia tăng nguồn vốn trong nền kinh tế.
* Chức năng thủ quỹ cho xã hội Ngân hàng giữ tiền theo yêu cầu của khách hàng cá nhân, doanh nghiệp.NHTM có thể cung cấp các dịch vụ tài chính cho cá nhân và các tổ chức khác. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại: NHTM là một doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh về tiền tệ, tín dụng. Hoạt động kinh doanh cơ bản của các NHTM là các hoạt động đem lại lợi nhuận cho ngân hàng thương mại bao gồm: Hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay và đầu tư và các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác. Hoạt động huy động vốn: Trong cơ cấu nguồn vốn, cần có tính hợp lý của tỷ lệ vốn chủ sở hữu của ngân hàng với nguồn vốn ngân hàng huy động được từ bên ngoài, đến sự tương ứng giữa nguồn vốn ngắn hạn, dài hạn với sử dụng vốn ngắn hạn, dài hạn, giữa nguồn vốn chủ sở hữu với nguồn vốn đầu tư cho tài sản cố định, giữa vốn chủ sở hữu của ngân hàng với phần tài sản khó có khả năng thu hồi.
* Huy động vốn chủ sở hữu của ngân hàng: Để có thể thành lập một ngân hàng, thông thường chủ sở hữu phải có một số vốn nào đó lớn hơn số vốn vốn pháp định “là số vốn tối thiểu phải có để thành lập ngân hàng do pháp luật quy định”. Mỗi ngân hàng lại có số vốn hoạt động khác nhau gọi là vốn điều lệ phải lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định. Tùy theo từng loại hình ngân hàng mà nguồn hình thành vốn điều lệ do các chủ sở hữu đóng góp khác nhau. Nếu ngân hàng tư nhân thì vốn này do vốn riêng của chủ doanh nghiệp đầu tư, ngân hàng cổ phần do các cổ đông Kế Toán huy động vốn tại NHNo&PTNT huyện Hiệp Hòa - Thực trạng và Giải pháp Chuyên đề tốt nghiệp 5 Lê Đình sáu – K34H đóng góp.
Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn riêng thuộc quyền sở hữu của ngân hàng, mức vốn điều lệ là bao nhiêu tùy thuộc vào quy mô kinh doanh và pháp luật quy định cụ thể. Trong hoạt động ngân hàng nguồn vốn này thường nhỏ so với tổng nguồn vốn và do đó chúng chủ yếu tham gia vào tài sản cố định, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ kinh doanh. Vốn chủ sở hữu là nguồn lực cơ bản để minh chứng sức mạnh tài chính của các NHTM, đóng vai trò quan trọng vừa để một ngân hàng bắt đầu hoạt động, vừa đảm bảo khả năng tồn tại của ngân hàng đó, quyết định quy mô hoạt động, tầm vươn và độ an toàn cho các hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng trên thương trường. Vốn thấp cũng gây gánh nặng tài chính to lớn cho quốc gia khi các ngân hàng bị phá sản.
Vốn thấp hạn chế các ngân hàng mở rộng các dịch vụ và quy mô hoạt động, đồng thời không thể phát huy được lợi thế trong cạnh tranh. Do chức năng quan trọng của vốn chủ sở hữu là có thể bù đắp được các tổn thất phát sinh từ nghiệp vụ tín dụng, đầu tư và những rủi ro khác trong kinh doanh nên cơ cấu và mức vốn chủ sở hữu là thích hợp, là một nhân tố hết sức quan trọng trong việc đảm bảo an toàn và khuyến khích hoạt động kinh doanh của một ngân hàng. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng càng lớn càng làm tăng sự tín nhiệm của công chúng, tăng sức chịu đựng của ngân hàng khi tình hình kinh tế, tình hình hoạt động ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng càng lớn càng làm tăng khả năng tạo thuận lợi cho ngân hàng, vì có thể đa dạng hóa các hoạt động ngân hàng, từ đó có nhiều cơ hội tạo ra nhiều tiền hơn.
Tuy nhiên tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn của ngân hàng quá lớn sẽ làm cho lợi nhuận chi cho các cổ đông thấp. Vấn đề đặt ra là vốn chủ sở hữu của ngân hàng ở mức bao nhiêu là hợp lý. Sẽ là khó có câu trả lời chung nhất cho mọi ngân hàng ở mọi quốc gia. Song có thể chắc chắn rằng việc xác định quy mô vốn chủ sở hữu hợp lý cho một ngân hàng cần xem xét trong mối liên quan với các rủi ro ngân hàng.
Bởi vậy, nội dung chủ yếu của việc đánh giá tình Kế Toán huy động vốn tại NHNo&PTNT huyện Hiệp Hòa - Thực trạng và Giải pháp Chuyên đề tốt nghiệp 6 Lê Đình sáu – K34H hình vốn chủ sở hữu là xem xét mức độ tự có của ngân hàng có khả năng chịu đựng được rủi ro trong kinh doanh hay không. Để đo lường và quyết định mức vốn chủ sở hữu hợp lý của một ngân hàng người ta thường xem xét vốn chủ sở hữu trong mối liên hệ với nhiều khoản mục khác nhau của bảng tổng kết tài sản như: tổng tiền gửi, tổng tài sản, tổng tài sản rủi ro. Chính vì vậy, giới quản trị ngân hàng, khách hàng và các cơ quan quản lý đều quan tâm đến khả năng của ngân hàng trong việc duy trì mức vốn chủ sở hữu và phương pháp quản trị vốn chủ sở hữu. * Huy động vốn nợ (tiền gửi và đi vay): Ngoài vốn chủ sở hữu, các NHTM thực hiện huy động vốn nợ.
Đây là một trong những hoạt động chủ yếu của NHTM nhằm giải quyết “đầu vào”, tức là giải quyết nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng chính đáng của tất cả các khách hàng. Để huy động vốn, các NHTM có thể thu hút từ các nguồn vốn từ bên ngoài và dưới các hình thức khác nhau: 1. Tiền gửi khách hàng: Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có nguồn tiền có chất lượng càng cao, các Ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau như: + Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là loại tiền được gửi trong các tài khoản của các tổ chức kinh tế mở tại Ngân hàng, là khoản tiền có thể rót ra bất cứ lúc nào và gồm hai loại chính: - Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý hay còn gọi là tiền gửi không giao dịch: Được ký gửi với mục đích an toàn, không mang tính chất phục vụ thanh toán.
Kế Toán huy động vốn tại NHNo&PTNT huyện Hiệp Hòa - Thực trạng và Giải pháp Chuyên đề tốt nghiệp 7 Lê Đình sáu – K34H Đặc điểm của tiền gửi không kỳ hạn là không ổn định, lãi suất thấp, Ngân hàng chỉ được sử dụng một phần sau khi đã đảm bảo khả năng thanh toán chi trả cho khách hàng. + Tiền gửi có kỳ hạn: Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: là loại tiền gửi có quy định cụ thể về thời gian rút tiền của khách hàng. Nó có thể là tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp khi cú cỏc khoản thu xác định thời hạn chi hoặc các khoản tích lũy của doanh nghiệp. Tiền gửi có kỳ hạn thường là của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có tính thời vụ, kế hoạch được nhu cầu sử dụng vốn trong tương lai.
Về cơ bản tiền gửi có kỳ hạn không được dùng để tiến hành thanh toán mà mục đích là để hưởng lãi. Đây là khoản tiền gửi tương đối ổn định, Ngân hàng có thể sử dụng phần lớn tồn khoản vào kinh doanh. Chính vì vậy Ngân hàng thường tăng cường khả năng huy động nguồn này bằng cách đưa ra nhiều loại thời hạn khác nhau với các mức lãi suất khác nhau, thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao. + Tiền gửi thanh toán: Để thực hiện thanh toán chi trả không dùng tiền mặt.
Các tổ chức kinh tế mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng để sử dụng cho các phương tiện thanh toán do Ngân hàng cung cấp. Loại này chiếm tuyệt đại bộ phận trong tổng vốn tiền gửi của các doanh nghiệp và Ngân hàng phải luôn luôn chủ động trả cho khách hàng và bất cứ lúc nào. Tuy nhiên do có sự rót ra, gửi vào liên tục, đồng thời giữa doanh nghiệp này rót ra, doanh nghiệp khác gửi vào tạo nên tồn khoản mà Ngân hàng có thể sử dụng một phần làm vốn kinh doanh.