phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề án gồm 3 phần chính như sau: Phần 1: Cơ sở xây dựng đề án huy động vốn tiền gửi của Ngân hàng thương mại Phần 2: Nội dung đề án huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng thương mại Cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hà Nội Phần 3: Các đề xuất và kiến nghị nhằm đẩy mạnh huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng thương mại Cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hà Nội. 7 PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Cơ sở lý luận về huy động vốn tiền gửi của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng thương mại Khái niệm và đặc điểm của vốn tiền gửi Theo Luật các TCTD nước ta năm 2017 khoản 13 điều 4 có quy định: “Tiền gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác.
Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền” (Quốc Hội (2017). Tiền gửi của NHTM có những đặc điểm chung sau: Thứ nhất, tiền gửi phải được thanh toán khi có sự yêu cầu của khách hàng, ngay cả khi đó là tiền gửi có kì hạn chưa đến hạn .Giao dịch nhận tiền gửi của ngân hàng được hiểu là cam kết song phương giữa NHTM với khách hàng gửi tiền, thông qua việc giao kết hợp đồng tài khoản tiền gửi. Việc ngân hàng giữ các khoản tiền gửi này cho khách hàng không đơn thuần là một nghiệp vụ giữ hộ tài sản hay quản lý tài sản cho khách hàng để nhận thù lao (như giai đoạn khởi thuỷ) mà quan trọng hơn nó là nghiệp vụ huy động vốn - nghiệp vụ đi vay của NHTM từ nền kinh tế. Do đó khi người gửi tiền yêu cầu thanh toán thì ngân hàng buộc phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Thứ hai, quy mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác Thông thường chiếm hơn 70% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của ngân hàng. Tiền gửi là cơ sở chính của cho vay và do đó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của ngân hàng, là khoản mục duy nhất trên bảng cân đối kế toán để phân biệt ngân hàng với các loại hình kinh doanh khác, năng lực đội ngũ nhân viên ngân hàng cũng như của các nhà quản lý ngân hàng trong việc thu hút tiền gửi giao dịch và tiền gửi tiết kiệm từ doanh nghiệp, cá nhân, là thước đo quan trọng về sự chấp nhận của công chúng đối với ngân hàng. Thứ ba, tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc 8 Khi huy động tiền gửi, ngân hàng phải duy trì dự trữ bắt buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng có thể cho vay phần còn lại theo quy định. Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này - tỷ lệ do Ngân hàng Nhà nước ban hành và có hiệu lực trong thời kỳ nhất định.
Nếu thiếu hụt tiền mặt các ngân hàng thương mại phải vay thêm tiền mặt, thường là từ ngân hàng trung ương để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đây là một trong những công cụ của ngân hàng trung ương nhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách làm thay đổi số nhân tiền tệ. Khái niệm huy động vốn tiền gửi Huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng thương mại là quá trình ngân hàng thu hút và thu gom các nguồn tiền nhàn rỗi từ khách hàng cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp dưới các hình thức tiền gửi khác nhau như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, và các loại tiết kiệm khác. Quá trình này bao gồm việc ngân hàng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ gửi tiền hấp dẫn, bao gồm lãi suất, các ưu đãi, và các dịch vụ đi kèm nhằm thu hút khách hàng gửi tiền vào ngân hàng.
Huy động vốn tiền gửi đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn vốn ổn định để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh như cho vay, đầu tư, và các dịch vụ tài chính khác. Các hình thức huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng thương mại 1. Căn cứ vào kỳ hạn gửi tiền Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là các khoản tiền gửi không có kỳ hạn xác định, người gửi tiền có thể rút ra bất kỳ lúc nào tuỳ theo nhu cầu của mình do đó lãi suất của loại tiền gửi này thường thấp hơn so với các loại tiền gửi có kỳ hạn xác định. Do vậy lượng tiền gửi không kỳ hạn thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng.
Vì tiền gửi loại này rất biến động, khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào, do đó ngân hàng không chủ động sử dụng số vốn này, ngân hàng phải dự trữ một số tiền đảm bảo để có thể thanh toán ngay khi khách hàng có nhu cầu. Tiền gửi có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi có sự thỏa thuận giữa người gửi tiền và Ngân hàng về số lượng, kỳ hạn và lãi suất của khoản tiền gửi dó. Do đặc tính của khoản tiền gửi này là có độ ổn định cao nên ngân hàng có thể chủ động sử dụng số 9 tiền gửi đó vào mục đích kinh doanh trong thời gian ký kết. Đối với loại tiền gửi này, ngân hàng có rất nhiều loại thời hạn từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng… Mục đích là tạo cho khách hàng có được nhiều kỳ hạn gửi phù hợp với thời gian nhàn rỗi của khoản tiền mà họ có.
Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. Căn cứ theo mục đích gửi tiền Tiền gửi thanh toán: Là các khoản ký gửi của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không nhằm mục đích tìm kiếm thêm thu nhập mà để được hưởng các dịch vụ thanh toán của Ngân hàng, thông thường các khoản tiền gửi thanh toán có số lượng lớn. Các khoản tiền gửi này Ngân hàng phải chịu chi phí thấp, phải quản lý chính xác khâu dự trữ nhưng lại được sử dụng một khoản tiền lớn phục vụ cho các hoạt động của mình. Tiền gửi có kỳ hạn: nhằm mục đích hưởng lãi suất có kỳ hạn tương ứng.
Ngoài ra, khoản tiền gửi có kỳ hạn có thể được dùng cho nhiều mục đích khác nhau: Xác nhận khả năng tài chính cho khách hàng đi du lịch và học tập ở nước ngoài, dùng để cầm cố và bảo lãnh vay vốn ngân hàng hay dùng ký quỹ phát hành thẻ tín dụng quốc tế. Tiền gửi tiết kiệm: Loại hình này khá phổ biến ở các nước phát triển, thường sử dụng với những hộ có thu nhập thấp và trung bình. Những người để dành một khoản tiền gửi vào Ngân hàng (Thông thường là các khoản tiền đều đặn hàng năm) với ý định tích luỹ tiền cho một mục đích nhất định trong tương lai như xây dựng nhà cửa, mua ôtô… và cũng được hưởng lãi trên số tiền gửi như các loại tiết kiệm khác. Căn cứ theo loại tiền huy động Tiền gửi nội tệ: Đây là khoản tiền gửi cơ bản mà các NHTM nhận được, nguồn vốn nội tệ là nguồn vốn chủ yếu đối với các ngân hàng, nó phụ thuộc vào mức thu nhập trong nước và lãi suất huy động trong từng thời kỳ, loại tiền này thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng lượng tiết kiệm.
Tiền gửi ngoại tệ: Bên cạnh nhận tiền gửi nội tệ, Ngân hàng còn nhận tiền gửi dưới dạng ngoại tệ đặc biệt là các ngoại tệ mạnh như USD, FRF, GBP, DEM… Những ngoại tệ này cũng rất cần thiết trong hoạt động của Ngân hàng như kinh doanh ngoại tệ trong nước, trong quan hệ tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế…các Ngân hàng có xu hướng mở rộng kinh doanh đối ngoại thường có nguồn vốn ngoại 10 tệ lớn. Nhận tiền gửi bằng ngoại tệ là một phương thức đa dạng hoá về phương thức huy động vốn của các NHTM. Căn cứ theo chủ thể gửi tiền Tiền gửi cá nhân: Nguồn tiền nhàn rỗi từ dân cư sẽ được sinh lời khi gửi tiền. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế, các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác: Đây là khoản tiền các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, tín dụng và các tổ chức xã hội khác gửi vào ngân hàng nhằm mục đích thanh toán hoặc tiết kiệm.
Với mỗi tài khoản lượng vốn thường là rất lớn nhưng không có tính ổn định bằng nguồn vốn huy động từ dân cư do nó phụ thuộc vào tình hình thu chi biến động của doanh nghiệp. Nội dung huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng thương mại 1. Lập kế hoạch huy động vốn tiền gửi Lập kế hoạch huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng thương mại là một quy trình quan trọng nhằm đảm bảo nguồn vốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh và đầu tư. Ngân hàng cần phân tích kỹ lưỡng thị trường, khách hàng mục tiêu, và các yếu tố kinh tế vĩ mô để đưa ra các chính sách lãi suất cạnh tranh và hấp dẫn.
Ngoài ra, việc xây dựng các sản phẩm tiền gửi đa dạng, linh hoạt và phù hợp với nhu cầu khách hàng là yếu tố quyết định để thu hút vốn. Ngân hàng cũng phải đánh giá các kênh huy động vốn hiện có và phát triển thêm các kênh mới nhằm tối ưu hóa hiệu quả huy động. Sự kết hợp giữa marketing hiệu quả, chăm sóc khách hàng và nâng cao uy tín thương hiệu sẽ đóng góp tích cực vào việc thu hút nguồn tiền gửi. Cuối cùng, việc giám sát và đánh giá thường xuyên kế hoạch huy động vốn là cần thiết để điều chỉnh kịp thời, nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường và bảo đảm sự phát triển bền vững của ngân hàng.
Nội dung kế hoạch huy động vốm gồm: - Kế hoạch về tổng số tiền gửi huy động: Là tổng số tiền mà ngân hàng thu hút được từ các khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định. - Kế hoạch về cơ cấu kỳ hạn tiền gửi: Phân tích tỷ lệ giữa các khoản tiền gửi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn để đảm bảo cân đối giữa nguồn vốn và nhu cầu thanh khoản.