phần mở đầu và phần kết luận, luận văn đƣợc chia làm 03 Chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1: Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại và nghiệp vụ huy động vốn tiền gửi Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn tiền gửi của Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp phát triển hoạt động huy động vốn tiền gửi cho Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI CỦANGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI: 1.1 Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại: 1.1 Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại: Ngân hàng thƣơng mại là một loại hình tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan nhƣ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.2 Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại: Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu quan trọng nhất của ngân hàng thƣơng mại.Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác nhƣ cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ cho khách hàng. Nhìn vào bảng cân đối tài sản của ngân hàng thƣơng mại chúng ta thấy rằng nghiệp vụ huy động vốn đƣợc phản ảnh bên phần tài sản Nợ. Do vậy, huy động vốn còn đƣợc gọi là nghiệp vụ tài sản Nợ. Theo Nghị định 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thƣơng mại nhằm cụ thể hóa việc thi hành luật của các Tổ chức tín dụng, ngân hàng thƣơng mại đƣợc huy động vốn dƣới các hình thức sau đây: - Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dƣới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có gía khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nƣớc và ngoài nƣớc khi đƣợc Thống đốc ngân hàng nhà nƣớc chấp thuận, … - Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của các tổ chức tín dụng nƣớc ngoài. - Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nƣớc theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam.2 Tầm quan trọng của nghiệp vụ huy động vốn: 5 Nghiệp vụ huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhƣng nó là nghiệp vụ rất quan trọng.Không có nghiệp vụ huy động vốn xem nhƣ không có hoạt động của ngân hàng thƣơng mại. Vì một ngân hàng thƣơng mại khi đƣợc cấp phép thành lập phải có vốn điều lệ theo quy định. Tuy nhiên, vốn điều lệ chỉ đủ tài trợ cho tài sản cố định nhƣ trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị cần thiết cho hoạt động chứ chƣa đủ vốn để Ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh nhƣ cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng khác.
Để có vốn phục vụ cho các hoạt động này ngân hàng phải huy động vốn từ khách hàng. Do vậy, nghiệp vụ huy động vốn rất quan trọng đối với ngân hàng cũng nhƣ đối với khách hàng .1 Đối với ngân hàng thƣơng mại: Nghiệp vụ huy động vốn góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác.Không có nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng thƣơng mại sẽ không đủ vốn tài trợ cho hoạt động của mình. Mặt khác, thông qua nghiệp vụ huy động vốn ngân hàng thƣơng mại có thể đo lƣờng đƣợc uy tín cũng nhƣ sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Từ đó, ngân hàng thƣơng mại có các biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng.Có thể nói, nghiệp vụ huy động vốn góp phần giải quyết “đầu vào” của ngân hàng.2 Đối với khách hàng: Nghiệp vụ huy động vốn không chỉ có nghĩa quan trọng đối với ngân hàng mà còn có nghĩa quan trong đối với khách hàng.Nghiệp vụ huy động vốn cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu tƣ nhằm làm cho tiền của họ sinh lợi, tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng trong tƣơng lai.
Mặt khác, nghiệp vụ huy động vốn còn cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi. Cuối cùng, nghiệp vụ huy động vốn giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ khác của ngân hàng, đặc tiệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng và dịch vụ tín dụng khi khách hàng cần vốn cho sản xuất, kinh doanh hoặc cần tiền cho tiêu dùng.3 Đặc điểm và hình thức huy động vốn tiền gửi: 6 1.1 Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi thanh toán: Tiền gửi thanh toán là hình thức huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại bằng cách mở cho khách hàng tài khoản gọi là tiền gửi thanh toán.Tài khoản này mở cho các đối tƣợng khách hàng, cá nhân hoặc tổ chức, có nhu cầu thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Thanh toán qua ngân hàng là một loại dịch vụ thanh toán, theo đó ngân hàng thực hiện việc trích chuyển tiền từ tài khoản của đơn vị phải trả, bằng cách ghi Nợ vào tài khoản, sang tài khoản của đơn vị thụ hƣởng, bằng cách ghi Có tài khoản. Để thực hiện đƣợc nghiệp vụ thanh toán này, đòi hỏi khách hàng phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng.
Số dƣ có trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng có thể hình thành từ hai nguồn: do khách hàng nộp tiền mặt vào tài khoản hoặc do khách hàng nhận chuyển khoản từ đơn vị khác. Số dƣ này nhằm duy trì khả năng thanh toán và chi trả của khách hàng bất cứ thời điểm nào. Tuy nhiên, không phải lúc nào khách hàng cũng sử dụng số dƣ tài khoản tiền gửi thanh toán của họ. Do vậy, đôi khi số dƣ này nhàn rỗi tạm thời cho đến khi đƣợc huy động và thanh toán.
Những lúc nhàn rỗi tạm thời, số dƣ này trở thành nguồn vốn của nguồn vốn của ngân hàng , do đó, ngân hàng có thể sử dụng cho hoạt động của mình. Tuy nhiên, do tài khoản tiền gửi thanh toán là tài khoản không kỳ hạn, khách hàng có thể rút bất cứ lúc nào khi cần mà không phải báo trƣớc với ngân hàng nên ngân hàng rất khó có kế hoạch việc sử dụng loại tiền gửi này.Chính vì vậy, ngân hàng trả lãi suất rất thấp cho loại tiền gửi này, hoặc thậm chí không trả lãi. Do vậy, khách hàng thƣờng duy trì số dƣ cho tài khoản tiền gửi thanh toán không nhiều, chỉ vừa đủ đáp ứng nhu cầu chi trả hàng ngày của họ. Mặc dù số dƣ mở tài khoản tiền gửi thanh toán của từng khách hàng không lớn nhƣng do là trung tâm tập trung tiền tệ và cung cấp dịch vụ thanh toán, nên ngân hàng thƣơng mại có số lƣợng khách hàng rất đông khiến cho tổng vốn huy động qua tiền gửi thanh toán của khách hàng trở nên lớn đáng kể.2 Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi cá nhân: 7 Tài khoản tiền gửi cá nhân đƣợc mở cho khách hàng cá nhân có nhu cầu sử dụng nhƣ: nhận tiền lƣơng hàng tháng, nhận chuyển tiền từ nƣớc ngoài hoặc trong nƣớc.
Hiện nay, số lƣợng tài khoản cá nhân tại các ngân hàng thƣơng mại không ngừng tăng lên nhờ có sự định hƣớng của Chính phủ hƣớng tới tất cả các giao dịch thanh toán đều thực hiện qua ngân hàng, cũng nhƣ nhờ có sự phối hợp tốt giữa ngân hàng thƣơng mại và các doanh nghiệp cũng nhƣ các tổ chức khác trong việc triển khai mở tài khoản và trả lƣơng trực tiếp cho nhân viên vào tài khoản. Thông thƣờng, số dƣ tài khoản này tăng lên khi khách hàng nhận tiền lƣơng vào thời điểm trả lƣơng và giảm dần khi khách hàng rút tiền về chi tiêu nên số dƣ trên các tài khoản này thƣờng không lớn nhƣng do số lƣợng tài khoản rất lớn nên ngân hàng có thể huy động đƣợc nguồn vốn đáng kể. Do đó, đây là một thị trƣờng hấp dẫn để các ngân hàng luôn đƣa ra những chính sách cạnh tranh nhằm tăng nguồn vốn huy động của mình.3 Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi tiết kiệm: 1.1Tiết kiệm không kỳ hạn: Sản phẩm tiết kiệm không kỳ hạn đƣợc thiết kế dành cho đối tƣợng khách hàng cá nhân hoặc tổ chức, có tiền tạm thời nhàn rỗi muốn gửi ngân hàng vì mục tiêu an toàn, sinh lợi nhƣng không thiết lập đƣợc kế hoạch sử dụng tiền gửi trong tƣơng lai. Đối với khách hàng khi lựa chọn hình thức tiền gửi này thì mục tiêu an toàn và tiện lợi quan trọng hơn là mục tiêu sinh lợi.Với sổ tiết kiệm không kỳ hạn, khách hàng có thể gửi tiền và rút tiền bất cứ lúc nào trong giờ giao dịch.
Tuy nhiên, khác với hình thức tài khoản tiền gửi cá nhân mỗi lần giao dịch khách hàng xuất trình sổ tiền gửi và chỉ có thể thực hiện đƣợc các giao dịch ngân quỹ nhƣ là gửi tiền và rút tiền chứ không thể thực hiện đƣợc các giao dịch thanh toán nhƣ trong trƣờng hợp tài khoản tiền gửi thanh toán. Đối với ngân hàng, vì loại tiền gửi này khách hàng muốn rút bất cứ lúc nào nên ngân hàng phải đảm bảo tồn quỹ để chi trả và khó lên kế hoạch sử dụng tiền gửi. Mặc dù, số dƣ trên tài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn của khách hàng 8 thƣờng không lớn (do chỉ hƣởng ở mức lãi suất thấp) nhƣng nếu ngân hàng thu hút đƣợc số lƣợng khách hàng khá lớn thì tổng khối lƣợng vốn huy động qua hình thức gửi tiền này có thể trở nên lớn đáng kể.2Tiết kiệm định kỳ: Khác với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm định kỳ đƣợc thiết kế dành cho khách hàng cá nhân và tổ chức cho nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn, sinh lợi và thiết lập đƣợc kế hoạch sử dụng tiền trong tƣơng lai. Đối tƣợng khách hàng chủ yếu của loại tiền gửi này là các cá nhân muốn có thu nhập ổn định và thƣờng xuyên, đáp ứng cho việc chi tiêu hàng tháng hoặc hàng qu.
Đa số khách hàng thích lựa chọn hình thức tiền gửi này là công nhân, viên chức hƣu trí. Mục tiêu quan trọng của họ khi lựa chọn loại tiền gửi này là lợi tức có đƣợc theo định kỳ. Do đó, lãi suất đóng vai trò quan trọng đề thu hút hút đƣợc đối tƣợng khách hàng này. Tiết kiệm kỳ hạn có thể phân chia thành nhiều loại.