PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Vốn luôn là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình hoạt động, kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Hơn nữa, đối với các ngân hàng với tƣ cách là định chế tài chính trung gian, hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ thì vốn lại có một vai trò hết sức quan trọng. Để có đủ vốn đáp ứng cho hoạt động kinh doanh của mình, các ngân hàng chủ yếu dựa vào nguồn vốn huy động từ bên ngoài.
Trong xu thế hội nhập và cạnh tranh gay gắt của ngành ngân hàng và đặc biệt trong bối cảnh kinh tế khó khăn nhƣ hiện nay thì việc huy động vốn đối với các ngân hàng nhỏ lại càng thêm khó. Với chiến lƣợc kinh doanh là “ trở thành ngân hàng bán lẻ trên nền tảng công nghệ hiện đại”, tuy nhiên trong thời gian qua, ngân hàng Liên doanh Việt-nga vẫn chƣa thực sự để lại dấu ấn trên thị trƣờng. Và đặc biệt, trƣớc tình hình tái cấu trúc hệ thống tài chính hiện nay, để tồn tại và đứng vững trên thƣơng trƣờng, ngân hàng Liên doanh Việt-nga cần có những chính sách cũng nhƣ bƣớc đi phù hợp, đúng đắn trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng để khẳng định mình. Xuất phát từ những lý do trên, Tôi đã chọn đề tài “Phát triển hoạt động huy động vốn khách hàng cá nhân tại ngân hàng Liên doanh Việt-nga” làm đề tài nghiên cứu với hy vọng rằng sẽ đóng góp một phần nhỏ vào con đƣờng phát triển của ngân hàng Liên doanh Việt-nga theo định hƣớng đã đề ra.
Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu những lý luận cơ bản về nghiệp vụ huy động vốn từ khách hàng cá nhân trong ngân hàng thƣơng mại. Phân tích, nhận xét, đánh giá về thực trạng huy động vốn của khách hàng cá nhân tại ngân hàng Liên doanh Việt-nga trong giai đoạn 2009-2012. Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển hoạt động huy động vốn khách hàng cá nhân tại ngân hàng Liên doanh Việt-nga. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2 Đối tƣợng nghiên cứu: các vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn vốn, hoạt động huy động vốn từ khách hàng cá nhân tại ngân hàng Liên doanh Việt- nga dƣới hình thức nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động huy động vốn của khách hàng cá nhân qua hình thức nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng Liên doanh Việt-nga từ năm 2009 đến 2012. Các nguồn huy động dƣới các hình thức khác từ khách hàng cá nhân nhƣ phát hành giấy tờ có giá không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này. Phƣơng pháp nghiên cứu và tiếp cận vấn đề Đề tài sử dụng phƣơng pháp thống kê, so sánh và phân tích. Trong đó, tác giả thống kê tình hình hoạt động của ngân hàng Liên doanh Việt-nga trong giai đoạn 2009-2012.
Trên cơ sở đó, so sánh và phân tích thực trạng hoạt động huy động vốn của khách hàng cá nhân tại ngân hàng Liên doanh Việt-nga từ năm 2009 đến 2012, từ đó đƣa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần phát triển hoạt động huy động vốn khách hàng cá nhân cho VRB trong thời gian tới. Phƣơng pháp thu thập số liệu: Số liệu thứ cấp: các số liệu về kết quả hoạt động huy động vốn từ khách hàng cá nhân và một số hoạt động kinh doanh khác qua các năm 2009 đến năm 2012 đƣợc thu thập từ các Báo cáo tài chính của ngân hàng Liên doanh Việt-nga và một số NHTM khác. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Nêu lên những vấn đề lý thuyết về hoạt động huy động vốn và thực tiễn về hoạt động huy động vốn của khách hàng cá nhân tại ngân hàng Liên doanh Việt-nga giai đoạn 2009-2012. Phân tích thực trạng hoạt động huy động vốn của khách hàng cá nhân tại ngân hàng Liên doanh Việt-nga, ƣu thế và khó khăn của hoạt động này để từ đó đề ra những giải pháp phù hợp.
Kết cấu của luận văn Luận văn gồm 3 chƣơng 3 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động huy động vốn khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn từ khách hàng cá nhân tại ngân hàng Liên doanh Việt-nga trong giai đoạn 2009-2012. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển hoạt động huy động vốn khách hàng cá nhân tại ngân hàng Liên doanh Việt-nga. Kết quả đạt đƣợc và những hạn chế của đề tài Qua phân tích thực trạng hoạt động huy động vốn từ khách hàng cá nhân trong giai đoạn 2009-2012 tại ngân hàng Liên doanh Việt-nga, luận văn đã nêu ra đƣợc những ƣu điểm, kết quả đáng ghi nhận và phát huy trong công tác huy động vốn từ đối tƣợng khách hàng này tại ngân hàng.
Và luận văn cũng nêu rõ những hạn chế, khó khăn, những điểm chƣa cân xứng của nguồn vốn này so với hoạt động sử dụng vốn trong những năm qua. Chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu của VRB trong công tác huy động vốn của khách hàng cá nhân. Đƣa ra một số giải pháp, kiến nghị để khắc phục điểm yếu, tăng cƣờng năng lực cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn từ khách hàng cá nhân của VRB trong thời gian đến. Tuy nhiên, vì giới hạn về số liệu thứ cấp thu thập đƣợc nên luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu hoạt động huy động vốn từ khách hàng cá nhân tại VRB qua hình thức nhận tiền gửi của cá nhân bao gồm: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm.
Các hình thức huy động khác nhƣ phát hành giấy tờ có giá không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TỪ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.1 Khái niệm hoạt động huy động vốn từ khách hàng cá nhân Huy động vốn từ khách hàng cá nhân là nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các cá nhân của ngân hàng thƣơng mại dƣới hình thức nhận tiền gửi của khách hàng cá nhân bao gồm: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm; hình thức phát hành giấy tờ có giá bao gồm: chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho ngƣời gửi tiền theo thỏa thuận. Trong phạm vi của Luận văn này, đối tƣợng khách hàng cá nhân bao gồm ngƣời cƣ trú, ngƣời không cƣ trú và luận văn chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động huy động vốn từ khách hàng cá nhân dƣới hình thức nhận tiền gửi bao gồm: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm. Hoạt động huy động vốn của khách hàng cá nhân từ hình thức phát hành giấy tờ có giá và các hình thức khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn này.2 Các phƣơng thức huy động vốn từ khách hàng cá nhân 1.1 Huy động vốn qua hình thức nhận tiền gửi của khách hàng Huy động vốn qua hình thức nhận tiền gửi là đặc trƣng cơ bản trong kinh doanh của các ngân hàng thƣơng mại.
Tiền gửi bao gồm: - Tiền gửi không kỳ hạn Đó là các khoản tiền gửi không có sự thoả thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng, đƣợc sử dụng để tiến hành thanh toán, chi trả cho các hoạt động hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi khác phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thƣờng xuyên, an toàn và thuận tiện. Tiền gửi không kỳ hạn thƣờng 5 đƣợc bảo quản tại ngân hàng trên hai loại tài khoản : tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai. Đối với tài khoản tiền gửi thanh toán, việc rút tiền hoặc chi trả cho bên thứ ba đƣợc thực hiện bằng séc hay chuyển khoản. Tài khoản vãng lai là tài khoản có lúc dƣ Nợ, có lúc dƣ Có.
Với tài khoản này, khách hàng còn có thể đƣợc ngân hàng đáp ứng nhu cầu tín dụng trong một thời gian nhất định. Đứng trên góc độ ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn là một khoản nợ mà ngân hàng phải chủ động trả cho khách hàng vào bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, trong mỗi ngân hàng, do có sự không khớp nhịp giữa việc rút và gửi tiền trên mỗi tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng và giữa các khách hàng làm cho lƣợng gửi vào lớn hơn lƣợng rút ra, tạo nên tồn khoản mà ngân hàng đƣợc phép sử dụng một phần làm vốn kinh doanh. - Tiền gửi có kỳ hạn Là loại tiền đƣợc gửi vào ngân hàng trên cơ sở có sự thoả thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng.
Nhƣ vậy, theo nguyên tắc, khách hàng gửi tiền chỉ đƣợc rút ra khi đến hạn đã thoả thuận. Đại bộ phận nguồn tiền gửi này có nguồn gốc từ tích luỹ và xét về bản chất chúng đƣợc gửi với mục đích hƣởng lãi. Do đó, khác với tiền gửi không kỳ hạn, yếu tố lãi suất có tác động rất lớn đến nguồn này. Thông thƣờng, tiền gửi có kỳ hạn là các khoản tiền gửi có thời hạn dài và có lãi suất cao.
Đây là nguồn tiền tƣơng đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần lớn tồn khoản vào kinh doanh. Để tăng cƣờng khả năng huy động nguồn vốn này, trƣớc hết các ngân hàng thƣơng mại thƣờng áp dụng nhiều kỳ hạn khác nhau nhằm đáp ứng đƣợc những nhu cầu của các loại khách hàng khác nhau. Đối với mỗi kỳ hạn, ngân hàng thƣờng áp dụng một mức lãi suất tƣơng ứng, với nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao. - Tiền gửi tiết kiệm 6 Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền để dành của cá nhân đƣợc gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hƣởng lãi.
Tiền gửi tiết kiệm gồm có : tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào tuy nhiên, khách hàng không đƣợc sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho ngƣời khác. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là khoản tiền gửi có sự thoả thuận về thời hạn gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.