lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn được chia thành 3 chương chính: Chƣơng I: Tổng quan về kết quả kinh doanh và bộ chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh trong các ngân hàng thƣơng mại; Chƣơng II: Đánh giá thực trạng và bộ chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh đang đƣợc sử dụng tại Khối Khách hàng Doanh nghiệp lớn- Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội (SHB); Chƣơng III: Xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh và Đề xuất một số giải pháp nâng cao kết quả kinh doanh tại Khối Khách hàng Doanh nghiệp lớn- Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội (SHB) giai đoạn 2019-2022 Luan van 9 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ BỘ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Các khái niệm cơ bản về kết quả kinh doanh và bộ chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh 1. Khái niệm về kết quả kinh doanh Kết quả kinh doanh của một tổ chức là kết quả cuối cùng về các hoạt động sản xuất kinh doanh của một tổ chức trong một kỳ đánh giá nhất định, hay kết quả kinh doanh là biểu hiện bằng phần tiền chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí của các hoạt động kinh tế đã được thực hiện.
Kết quả kinh doanh được thể hiện bằng lãi (nếu doanh thu lớn hơn chi phí) hoặc lỗ (nếu doanh thu nhỏ hơn chi phí). Kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức bao gồm kết quả của hoạt động sản xuất, kết quả của hoạt động tài chính và kết quả của hoạt động khác. Khái niệm về bộ chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh Bộ chỉ tiêu KPI- Key Performance Indicators là tập hợp các biện pháp tập trung vào những khía cạnh của các hoạt động tổ chức nhằm mang đến sự thành công hiện tại và tương lai của tổ chức, (David Parmenter, Các chỉ tiêu đo lường hiệu suất: Xây dựng và ứng dụng các chỉ tiêu hiệu suất cốt yếu có tính thuyết phục). KPI được hiểu là các chỉ tiêu đo lường hiệu suất cốt yếu, hay chỉ tiêu đo lường sự thành công (KSI – Key Success Indicator), hay còn được gọi với cái tên phổ biến là chỉ tiêu đánh giá hoạt động, KPI là các chỉ tiêu đánh giá thực hiện công việc, là công cụ đo lường, đánh giá hiệu quả công việc được thể hiện qua số liệu, tỉ lệ, chỉ tiêu định lượng, hay còn được gọi bằng tên phổ biến là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động, được xây dựng nhằm đánh giá hiệu quả sự tăng trưởng của các hoạt động trong tổ chức so với mục tiêu đề Luan van 10 ra, (David Parmenter, Chỉ tiêu đo lường hiệu suất – Key Performance Indicator (KPI)).
Các chỉ tiêu này giúp tổ chức định hình và theo dõi quá trình hoạt động và tăng trưởng so với mục tiêu của tổ chức. KPI là một công cụ hiện đại giúp cho các nhà quản lý triển khai chiến lược lãnh đạo thành các mục tiêu quản lý và chương trình hành động cụ thể cho từng bộ phận, từng lĩnh vực (về nhân sự: về tuyển dụng, về đào tạo, về năng suất của nguồn nhân lực, về an toàn lao động, về giờ làm việc, về lương, về đánh giá công việc, về hoạt động cải tiến, về lòng trung thành…; về tài chính, về sản xuất chất lượng, về quảng cáo…) và từng cá nhân, do đó, KPI áp dụng cho nhiều mục đích: quản lý hệ thống công việc của một tổ chức, tự quản lý công việc của nhóm, của cá nhân. Hay nói cách khác, KPI phản ánh mục tiêu công việc mà tổ chức, phòng ban, tổ nhóm hay cá nhân muốn đạt được để đáp ứng yêu cầu chung. Thông thường mỗi chức danh sẽ có bản mô tả công việc hoặc kế hoạch làm việc hàng tháng.Nhà quản lý sẽ áp dụng các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả của chức danh đó.
Dựa trên việc hoàn thành PI, công ty sẽ có các chế độ thưởng phạt cho từng cá nhân.KPI là cơ sở để nhà quản lý đánh giá thành tích của phòng ban, của nhân viên và đưa ra những khuyến khích phù hợp cho từng phòng ban, từng nhân viên. Thêm vào đó, KPI là thước đo định lượng được sử dụng để đo lường kết quả hoạt động của tổ chức trong việc đạt được các yếu tố thành công. KPI có thể là chỉ tiêu đo tài chính hoặc phi tài chính.Mục đích của việc sử dụng chỉ tiêu KPI trong đánh giá thực hiện công việc là nhằm đảm bảo cho người lao động thực hiện đúng các trách nhiệm trong bảng mô tả công việc của từng vị trí chức danh cụ thể, điều này góp phần cho việc đánh giá thực hiện công việc trở nên minh bạch, rõ ràng, cụ thể, công bằng và hiệu quả hơn, nâng cao hiệu quả của đánh giá thực hiện công việc bởi vì các chỉ tiêu KPI mang tính định lượng cao, có thể đo lường cụ thể. Phân biệt KPI và một số chỉ tiêu đo lường hiệu quả Trong thực tế hiện nay, có rất nhiều các chỉ tiêu dùng làm thước đo cho tất cả các hoạt động của một tổ chức.
Các chỉ tiêu KPI là những chỉ tiêu được sử dụng khá rộng rãi. Tuy nhiên, một thực tế hiện nay là các tổ chức đang sử dụng các chỉ tiêu đo lường không chuẩn, trong đó nhiều chỉ tiêu bị gọi không đúng cách là chỉ tiêu đo lường hiệu quả cốt yếu - KPI. Trên thực tế hiện nay, tồn tại ba loại chỉ tiêu đo lường hiệu suất đó là: Hình 1.1: Ba loại chỉ tiêu đo lường hiệu suất Nguồn: David Parmenter, Các chỉ tiêu đo lường hiệu suất Chỉ tiêu kết quả cốt yếu (KRI): cho biết chúng ta đã làm được gì với một chỉ tiêu. Các ví dụ về chỉ tiêu kết quả cốt yếu Chỉ tiêu hiệu suất (PI): là chỉ tiêu cho biết tổ chức cần làm gì, biểu thị một tập hợp các chỉ tiêu đo lường hướng vào các phương diện hoạt động của tổ chức.
Chỉ tiêu hiệu quả cốt yếu (KPI) ): là chỉ tiêu cho biết tổ chức phải làm gì để tăng hiệu suất lên một cách đáng kể. Chỉ tiêu kết quả cốt yếu (KRI) là những chỉ tiêu bao gồm các chỉ tiêu như: lợi nhuận ròng trước thuế; lợi nhuận thu được từ số vốn đã sử dụng, sự hài lòng của nhân viên… Đặc điểm chung của nhóm chỉ tiêu này là kết quả Luan van 12 của nhiều hoạt động, cho thấy tổ chức có đang đi đúng hướng hay không .Tuy nhiên, nhóm chỉ tiêu kết quả cốt yếu (KRI) không thể cho bạn biết bạn cần phải làm gì để cải thiện những kết quả đã đạt được. Và như vậy, các chỉ tiêu này cung cấp các thông tin lí tưởng cho Hội đồng quản trị – tức là chúng không liên quan gì đến hoạt động quản trị diễn ra hàng ngày. Chúng thường được theo dõi theo tháng hay quý chứ không phải theo tuần hay ngày như chỉ tiêu hiệt suất cốt yếu (KPI).
Giữa chỉ tiêu kết quả cốt yếu (KRI) và chỉ tiêu hiệu quả cốt yếu (KPI) chắc chắn tồn tại nhiều chỉ tiêu phản ánh hiệu suất - là các thước đo kết quả lao động dựa trên khối lượng công việc đã làm được trong một khoảng thời gian nhất định. Những chỉ tiêu hiệu suất này được đo lường trên tất cả các phương diện trong tổ chức, không phân biệt những chỉ tiêu đó cho kết quả thế nào đóng vai trò quan trọng với tổ chức hay không, đó chính là nguồn bổ sung và hình thành nên các các chỉ tiêu KPI – chỉ tiêu đo lường hiệu quả của những hoạt động quan trọng và nó được biểu thị cùng với các chỉ tiêu này trên thẻ điểm cân bằng của tổ chức, cũng như của phòng, ban, nhóm. Như vậy, các chỉ tiêu hiệu quả cốt yếu KPI biểu thị một tập hợp các chỉ tiêu đo lường có vai trò quan trọng, hướng vào các phương diện hoạt động của tổ chức – điều đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của tổ chức trong hiện tại cũng như trong tương lai. Theo David Parmenter, tổ chức nên có khoảng: (Quy tắc 10/80/10) 10 chỉ tiêu kết quả cốt yếu - KRIs (cho biết chúng ta đã làm được gì đối với một chỉ tiêu), 80 chỉ tiêu hiệu suất - PIs (cho biết chúng ta phải làm gì) 10 chỉ tiêu hiệu suất cốt yếu – KPIs (cho biết chúng ta phải làm gì để tăng hiệu suất lên một cách đáng kể).
Đặc điểm các chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh (KPI) Luan van 13 KPI là những chỉ tiêu nhằm đo lường kết quả hay sự thành công của các hoạt động trong tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu mà nhà quản trị đưa ra. Mỗi một chức danh, phòng, ban, bộ phận sẽ có mục tiêu hoặc kế hoạch làm việc hàng tháng. Các nhà quản trị sẽ áp dụng các chỉ tiêu đánh giá kết quả các hoạt động đó. Mỗi chức danh, phòng, ban lại có những chỉ tiêu KPI riêng, tuy nhiên, các chỉ tiêu KPI đều mang những đặc điểm như sau: Thứ nhất, KPI Đáp ứng được năm tiêu chuẩn của một mục tiêu – được chỉ rõ trong phương pháp quản trị mục tiêu MBO – SMART, đó là: S = Specific - Cụ thể, rõ ràng.
Các chỉ tiêu đưa ra phải thật cụ thể, rõ ràng. Các chỉ tiêu khi đưa ra phải giải thích được, chỉ tiêu này nói lên điều gì? Tại sao lại lựa chọn chỉ tiêu này? Chỉ tiêu này được đo lường như thế nào? M = Measureable - Có thể đo đếm được. Chỉ tiêu KPI chỉ có giá trị khi được xác định và đo lường một cách chính xác. “Trở thành tổ chức nổi tiếng nhất” không phải là chỉ tiêu KPI do không có cách nào đo được sự nổi tiếng của tổ chức hay so sánh nó với tổ chức khác.
A = Achievable - Có thể đạt được. Có rất nhiều các chỉ tiêu KPI đo lường được nhưng lại không phải là chìa khóa giúp các tổ chức thành công. Khi chọn lựa các KPI nên lựa chọn những chỉ tiêu thực sự cần thiết, giúp tổ chức có thể đạt được mục tiêu. Chỉ tiêu này sẽ theo sát mục tiêu – là những mục tiêu mà tổ chức nhận thấy họ có nhiều yếu tố nhằm đạt được mục tiêu một cách thực tế.
Vậy các KPI đưa ra cũng phải là những chỉ tiêu thực tế có thể đạt được. R = Realistic - Thực tế. Các chỉ tiêu đưa ra cũng cần cân nhắc và theo sát mục tiêu và thực tế. Không nên đưa ra những chỉ tiêu nằm ngoài khả năng đo lường thực tế, hoặc những KPI không đúng với thực tế công việc.
T = Timed - Có thời hạn.