CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây chè 1. Nguồn gốc và phân loại Theo Trịnh Xuân Ngọ (2009)[14] cây chè có nguồn gốc từ Đông Nam Á.
Đây là một loại cây công nghiệp lâu năm, cho hiệu quả kinh tế cao, được trồng ở hơn 30 quốc gia. Những nước trồng chè phổ biến là: Trung Quốc, ấn Độ, Srilanca, Nhật Bản, Nga, Đài Loan, Việt Nam….Việt Nam là một trong những nước có tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất chè: diện tích đất theo qui hoạch để trồng chè rất lớn (trên 200.000 ha); điều kiện khí hậu rất phù hợp cho cây chè phát triển: lắm nắng, mưa nhiều - lượng nước mưa trung bình 1700 - 2000mm/ năm, độ ẩm không khí 80 -85%, - nhiệt độ trung bình 21 - 22,60C; đất trồng chè gồm hai loại là phiến thạch sét và bazan màu mỡ … Ngày nay, ở hầu hết các tỉnh có điều kiện thuận lợi đều trồng chè, song ba vùng trồng nhiều nhất là: - Vùng chè thượng du (Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu, Yên Bái) chiếm khoảng 25% sản lượng chè miền Bắc. - Vùng trung du (Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Cạn, Thái Nguyên). Đây là vùng chè chủ yếu chiếm đến 75% sản lượng chè miền Bắc với nhiều nhà máy sản xuất lớn.
- Vùng chè Tây Nguyên (Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Đắc Lắc) chủ yếu trồng giống chè Ấn Độ và chè shan, chè Ô long. Trong đó vùng chè Thái Nguyên là vùng có sản lượng chè lớn thứ 2 trong cả nước và rất nổi tiếng với sản phẩm chè đặc sản Tân Cương. Thái Nguyên hiện có 16746 ha chè, trồng chủ yếu là các giống Trung du (TDLX, LDP1). Về phân loại khoa học cây chè được thể hiện trong bảng 1.1: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phân loại khoa học của cây chè [14] Phân loại khoa học Giới Plantee Ngành Magnoliopsida Bộ Ericale Họ Theaceae Chi Camellia Loài C. Đặc điểm hình thái Cây chè có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 30, thuộc loại thân gỗ hoặc thân bụi và được trồng để thu lá làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và mang một số đặc điểm sinh học sau đây: - Hình thái: Thân: thẳng và tròn, phân nhánh liên tục thành một hệ thống cành và chồi. Trên thân có mấu chia thành nhiều lóng. Cành: do mầm dinh dưỡng biến đổi thành.
Trên cành chia ra làm nhiều đốt, chiều dài đốt cành biến đổi từ 1 – 10 cm tùy theo giống và điều kiện sinh trưởng. Chồi: mọc ra từ nách lá, chia theo sự biệt hóa của chồi có chồi dinh dưỡng mọc ra lá và chồi sinh thực mọc ra nụ, hoa, quả. Lá: lá chè là loại lá hình đơn nguyên, có hệ gân lá rất rõ, rìa lá có răng cưa, chiều dài từ 4 – 15 cm, rộng từ 2 – 5 cm. Hoa: hoa chè là loại hoa lưỡng tính, trong hoa có 5 - 8 cánh màu trắng, có khi lại hơi phớt hồng.
Quả: quả chè là một loại quả nang có từ 1 - 4 hạt. Quả chè có dạng hình tròn, tam giác, vuông tùy theo số hạt. Hạt: hình cầu, bán cầu, tam giác tùy giống chè; vỏ sành thường màu nâu, cứng, bên trong là lớp vỏ mỏng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Hệ rễ: gồm rễ cọc (trụ), rễ dẫn (hay rễ nhánh, rễ bên) màu nâu hay nâu đỏ và rễ hút hay rễ hấp thụ màu vàng ngà [2].
- Đặc tính sinh lý, sinh thái của cây chè: Nhiệt độ không khí thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của chè là 22 - 28oC, độ ẩm không khí tương đối thích hợp là 80 - 85 %. Hàm lượng nước cần thiết cho cây chè biến động tùy từng giống chè. Loại đất thích hợp cho trồng chè dày 60 - 100 cm; mực nước ngầm dưới 100 cm; độ chua pH: 4,5 - 5,5; tỷ lệ mùn 3 - 4 %[3]. - Sinh trưởng và phát triển của cây chè: Sự phát triển của cây chè chia làm hai chu kỳ: chu kì phát triển lớn gồm suốt đời sống cây chè từ khi hạt nảy mầm đến khi cây chết và chu kì phát triển nhỏ bao gồm các giai đoạn sinh trưởng, phát triển lặp lại nhiều lần trong một năm[2][3].
Thành phần hóa học của chè Thành phần chính của lá chè là nước chiếm 75-82%, có liên quan đến quá trình biến đổi sinh hóa trong búp chè và đến sự hoạt động của các enzyme, là chất quan trọng không thể thiếu được duy trì sự sống của cây [7]. Bên cạnh thành phần chính là nước thì thành phần và hàm lượng các chất hòa tan trong chè là một trong mối quan tâm hàng đầu đối với các nghiên cứu về chè xanh [6][3].Trong đó, nhóm chất tannin được xem như thành phần chính, chiếm khoảng 27- 34% chất khô trong chè. Tanin gọi chung là hợp chất phenol thực vật bao gồm các phonyphenol đơn giản và các polyphenol đa phân tử, bên cạnh đó chúng còn kèm theo các hợp chất phenol thực vật phi tannin có màu và vị rất đắng. Tỷ lệ các chất trong thành phần hỗn hợp của tannin chè không giống nhau và tùy theo từng giống chè mà thay đổi.
Tuy nhiên, người ta đã xác định được trong chè tannin gồm 3 nhóm chủ yếu là catechins, flavonol và glycoside, anthocyanidin và leucoanthocyanidin. Theo Chi - Tang Ho (2008) trong lá chè chứa hàm lượng polyphenol tương đối cao, thành phần chính của polyphenol trong lá chè được trình bày trong bảng 1.2 : Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thành phần các hợp chất polyphenol trong lá chè xanh[21] Thành phần Hàm lượng Tổng số 18-36% Flavan-3-ols (Catechin) 12-24% Flavonol và glycosides 3-4% Anthocyanins và Leucoanthocyanidin 2-3% Phenolic ~ 5% 1. Tác dụng sinh học của cây chè Nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, cho thấy chè xanh mang lại nhiều tác dụng nhờ thành phần hóa học đa dạng với các chất hỗ trợ sức khỏe và phòng chống bệnh tật.
Ngô Đức Phương, nguyên cán bộ Khoa Tài nguyên- Dược liệu, viện Dược liệu đã đưa ra kết quả. Về dược lý học chè có vị đắng chát, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt giải khát, tiêu cơm, lợi tiểu, da thịt mát mẻ, bớt mụn nhọt và cầm tả lị. Do có cafein và theophyllin, chè xanh được xem là một chất kích thích não, làm tăng hô hấp, tăng cường và điều hoà nhịp đập của tim[16]. Thành phần catechins có trong chè xanh đã được nghiên cứu chứng minh có tác dụng giảm nguy cơ gây ung thư, giảm kích thước khối u, diệt khuẩn.
Ngoài ra, các nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy tác dụng chống phóng xạ của chè xanh. Các flavonol và polyphenol làm cho chè có tính chất của vitamin P[11]. Những chất polyphenol có trong chè xanh có vai trò quan trọng trong việc phòng chống bệnh ung thư. So với chè đen thì chè xanh có hàm lượng polyphenol cao hơn vì không bị biến đổi thành phần hóa học trong các phản ứng sinh hóa[7].
Đặc biệt, EGCG là loại polyphenol chủ yếu tạo nên dược tính của chè xanh, nó có công dụng ngăn ngừa các enzyme kích hoạt sự sao chép và quá trình phân bào[13]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ngô Đức Phương phân tích thêm, các thành phần vitamin trong chè cũng có tác dụng tích cực đối với sức khỏe, ví dụ như vitamin C giúp làm tăng sức đề kháng và chống bệnh cúm; vitamin nhóm B trợ giúp cho quá trình trao đổi carbon hydrat; vitamin E tác dụng chống oxy hóa và hạn chế lão hóa [16]. Hoạt tính chống oxy hóa Có nhiều nghiên cứu đã khẳng định hoạt tính chống oxy hóa chính của chè là do hoạt tính của các polyphenol.
Nghiên cứu của Mai Tuyên, Vũ Bích Lan và Ngô Đại Quang chỉ ra hoạt tính chống oxy hóa của polyphenol tách chiết từ lá chè xanh để bảo quản hạt dầu cải đã đưa ra kết luận polyphenol chiết xuất từ lá chè xanh thứ phẩm có tác dụng kháng oxy hóa rất rõ rệt và mạnh hơn nhiều so với ascorbic acid và tocopherol. Tác dụng sinh học của các polyphenol chè hay của dịch chiết lá chè xanh được giải thích là do chúng có tác dụng khử các gốc tự do, giống như tác dụng của các chất antioxidant. Các nhóm có chức năng chống oxy hóa của các polyphenol[11] Cơ chế chống oxy hóa của chè thuộc cơ chế chống oxy hóa của các hợp chất phenol. Tính chống oxy hóa của các ankylphenol thể hiện ở chỗ chúng có khả năng vô hiệu hóa các gốc peroxyt, do đó nó có thể cắt mạch oxy hóa.
Sản phẩm đầu tiên xuất hiện là các gốc phenol tạo thành do nguyên tử hydro của nhóm hydroxyl được nhường cho gốc peroxyt: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Cơ chế chống oxy hóa của polyphenol[11] Các gốc phenol rất ổn định, kém hoạt tính, nhờ vậy chúng không có khả năng sinh mạch oxy hóa tiếp theo. Hoạt tính chống oxy hóa của các hợp chất ankylphenol được tăng lên bằng cách hydroxyl hóa và phân tử phenol, vì các hợp chất polyphenol có hoạt tính tốt hơn monophenol. Chúng có một số tính chất sau: Dạng khử của chúng có thể phản ứng với gốc tự do, chuyển thành dạng oxy hóa: Dạng oxy hóa của chúng có thể chuyển thành dạng lưỡng gốc và như vậy chúng có khả năng phản ứng với hai gốc tự do nữa: Đặc biệt dạng oxy hóa và dạng khử của chúng có thể tương tác với nhau thuận nghịch tạo gốc Semiquinon: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Ngoài ra các hợp chất catechin trong chè có khả năng tạo phức kim loại chủ yếu Fe, Cu, đây là những chất xúc tác để tạo ra gốc tự do. Tỷ lệ EGC, EGCG và EC tạo phức kim loại là 3:2, 2:1, 2:1, 3:1 [21].
Hoạt tính kháng khuẩn Tháng 8/1996, Shimaura công tác tại trường Đại học y khoa Showa (Nhật Bản) đã có công trình diễn thuyết “về tác động diệt khuẩn E.coli - 157” tại hội thảo chuyên đề diệt khuẩn của chè xanh. Ông đã khẳng định rằng catechin trong chè xanh có khả năng tiêu diệt các loại vi khuẩn làm hư hỏng thực phẩm và loại bỏ các độc tố do chúng gây ra. Cơ chế hoạt động của các catechin là phá hủy màng tế bào bên ngoài của vi khuẩn [25]. EGCG và EGC là catechin có khả năng kháng khuẩn mạnh nhất.