CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về hội chứng rối loạn phổ tự kỷ Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disoders – ASD) là một bệnh lý rối loạn về phát triển thần kinh phức tạp ở trẻ em được giả thuyết do sự phơi nhiễm với các chất độc hoặc do thay đổi về những yếu tố di truyền [5]. Bệnh được phân loại bao gồm: rối loạn Rett, rối loạn phân rã tuổi thơ, rối loạn Asperger, rối loạn phát triển lan toả không đặc hiệu và hội chứng nhiễm sắc thể X dễ gãy… [72].
Những rối loạn về hành vi thường phát triển trong những năm đầu tiên của cuộc đời. Đây là căn bệnh đang có xu hướng phát triển với một tốc độ đáng báo động không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Theo số liệu thống kê năm 2012, thế giới có khoảng 62/10 000 người bị mắc hội chứng rối loạn tự kỷ. Trước đó, nhiều nghiên cứu khảo sát toàn diện về tỷ lệ mắc bệnh từ khu vực Tây Thái Bình Dương đến Nhật Bản và Trung Quốc.
Năm 2000, tỷ lệ mắc tự kỷ dao động từ 2,8/10000 đến 94/10000 với giá trị trung bình là 11,6 /10 000. Chỉ có một nghiên cứu về hội chứng này ở khu vực Đông Nam Á, được thực hiện ở Indonesia vào năm 1992; ước tính tỷ lệ mắc tự kỷ là 11,7/10 000 [23]. Công bố năm 2014 của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hoa kỳ- CDC khi điều tra trên 11 bang của Mỹ cho thấy trung bình cứ 59 trẻ ở độ tuổi 8 tuổi thì có 1 trẻ bị hội chứng tự kỷ. Tỷ lệ này có thể khác nhau giữa các bang (khoảng từ 13.000 trẻ em 8 tuổi) và thay đổi theo giới tính và chủng tộc/sắc tộc.
Bé trai có nguy cơ mắc tự kỷ cao gấp từ 4 -5 lần so với bé gái [72]. Tại Việt Nam, số trẻ được chẩn đoán tự kỷ ngày càng tăng lên. Cụ thể, tại Bệnh viện Nhi Trung ương, số trẻ được chẩn đoán tự kỷ trong năm 2008 là 450 trẻ, năm 2009 là 963 trẻ, con số này vào năm 2010 lên tới 1792 trẻ [2]. Nghiên cứu của Hoàng Văn Minh và cs năm 2019 về tỷ lệ mắc tự kỷ ở nhóm trẻ 18-30 tháng tuổi ở Miền Bắc Việt Nam là 75,2/10 000 trẻ, cao hơn so với thống kê giai đoạn 2013-2014.
Cũng trong nghiên cứu này, tác giả còn chỉ ra tỷ lệ mắc rối loạn tự kỷ cao hơn ở những trẻ em sống trong môi trường đô thị. Mức độ đô thị hoá ngày càng tăng dẫn đến trẻ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn [29]. 3 Luận văn thạc sĩ khoa học Trần Quốc Đạt – K26 Sinh học thực nghiệm 1. Chẩn đoán Về mặt chẩn đoán, trong khoảng thời gian dài tranh luận và sửa đổi, các nhà tâm thần học đã đi đến thống nhất và mô tả hoàn chỉnh các tiêu chí trong hai bảng phân loại bệnh quốc tế là “The Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders – 5th Edition” (DSM-V) và “Autism Spectrum Diagnostic Observation Schedule” (ASD-OC) [27], [31].
Trẻ mắc hội chứng này thường biểu hiện sự thiếu hụt và bất thường ở ba yếu tố chẩn đoán cốt lõi là tương tác xã hội, khả năng giao tiếp và hành vi có tính lặp lại. Trong đó, tiêu chuẩn chẩn đoán bao gồm việc xuất hiện ít nhất ba dấu hiệu của sự giảm giao tiếp xã hội hoặc hai dấu hiệu của việc lặp đi lặp lại các hành vi và có phản ứng quá mức, hoặc dưới mức với các tác động từ môi trường [27]. Một số biểu hiện khác như động kinh, tăng động giảm chú ý, lo âu, trầm cảm cũng được sử dụng làm tiêu chuẩn chẩn đoán.