Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái quát về tín dụng, tín dụng nông thôn và hệ thống tín dụng nông thôn 1. Một số khái niệm về tín dụng Tín dụng là "phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay, trong quan hệ này người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho người đi vay trong thời gian nhất định, khi tới thời hạn trả nợ người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hoặc hàng hoá cho người cho vay kèm theo một khoản lãi"(Đỗ Tất Ngọc,2007).
Theo từ điển thuật ngữ tài chính thì: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại trong các phương thức sản xuất hàng hóa khác nhau và được biểu hiện như sự vay mượn trong thời hạn nào đó”. Khái niệm vay mượn bao gồm sự hoàn trả. Chính sự hoàn trả là đặc trưng thuộc bản chất của tín dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù cấp tài chính khác. Theo nghĩa nguyên thủy, tín dụng (credit) là sự tin tưởng, tín nhiệm mà cho vay mượn các loại vật tư, hàng hóa, tiền tệ.
Như vậy, tín dụng không chỉ là sự vay mượn thông thường mà là sự vay mượn với một mức tín nhiệm nhất định; Tức là khi thực hiện quyền cho vay, người cho vay tin vào khả năng trả nợ của người đi vay. Hiểu theo nghĩa rộng, tín dụng là một loại quan hệ xã hội biểu hiện mối liên hệ kinh tế, trước hết là dựa trên cơ sở niềm tin Tín dụng tồn tại và hoạt động là yếu tố khách quan và cần thiết cho sự phát triển mạnh mẽ, với các mối quan hệ cung cầu về tiền vốn như một đòi hỏi cần thiết khách quan của nền kinh tế. Tín dụng là một hiện tượng kinh tế nảy sinh trong điều kiện sản xuất hàng hóa. Sự ra đời và phát triển của tín dụng không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu điều hòa vốn trong xã hội mà còn là một động lực thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế đất nước.
Trong các tổ chức hoạt động về tín dụng, ngân hàng là định chế tài chính trung gian lớn nhất trong nền kinh tế, mạng lưới rộng khắp. Ngân hàng đóng 2 vai Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 trò trong nền kinh tế, vừa là người đi vay và vừa là người cho vay, do đó ngân hàng có thể tận dụng nguồn vốn huy động được để cho vay và sinh lời từ nguồn tiền này. Ngân hàng có các hình thức cho vay đa dạng và phong phú, không hạn chế về mặt thời gian và quy mô tín dụng, có thể thoả mãn nhu cầu của tất cả các chủ thể có nhu cầu về vốn. Hoạt động ngân hàng ngày càng đa dạng về các loại hình dịch vụ, ngoài hoạt động cấp tín dụng cho vay thì ngân hàng còn có các hoạt động dịch vụ khác như là bảo lãnh, chiết khấu, thanh toán, do đó đáp ứng tốt nhu cầu của các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế (Trần Ái Kết, 2009).
Khái niệm tín dụng nông thôn Tín dụng nông thôn là bất cứ loại chương trình tiết kiệm và cho vay, nhằm mục đích tác động đến một số cư dân nông thôn. Tùy theo tính chất của tín dụng nông thôn, kế hoạch tín dụng có thể tập trung vào việc cung tín dụng, đảm bảo mua sắm trang thiết bị mới, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, đổi mới hoặc cải thiện cuộc sống của người dân nông thôn. Trước kia, tín dụng nông thôn thường được hiểu là sự cung cấp tín dụng ưu đãi. Hiện nay theo xu thế phát triển chung, khái niệm tín dụng nông thôn gắn liền với các chính sách tín dụng cho khu vực nông thôn nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo và phát triển khu vực nông thôn.
Ở nhiều nước, tín dụng nông thôn được mở rộng dưới sự bảo trợ của chương trình chính phủ. Thông thường, các chương trình này tập trung vào việc tăng cường các nổ lực của nông nghiệp trong nước cũng như một phương tiện nhằm củng cố nền kinh tế. Với tài trợ của chính phủ, nông dân và chủ trang trại thường xuyên có được nguồn vốn để duy trì sản xuất của họ, sau đó hoàn trả khoản vay khi vật nuôi và cây trồng được bán. Tín dụng được mở rộng như một phương tiện của việc giữ cân bằng giữa nhập khẩu và xuất khẩu, bằng cách đảm bảo một phần trăm nhất định của cây trồng và các sản phẩm nông nghiệp khác được sản xuất trong nước Thế kỷ 20 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của tín dụng nông thôn.
Liên hiệp quốc đã chọn năm 2005 là “Năm quốc tế về tín dụng vi mô” đánh dấu một bước tiến vượt bậc của tín dụng vi mô nói riêng, tín dụng nông thôn nói chung từ những thử nghiệm trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX tới một trào lưu mang tính toàn cầu. Tín dụng nông thôn không chỉ lôi cuốn sự chú ý của các nhà tín dụng, các nhà làm phát triển mà Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 còn tạo sự quan tâm lớn đối với các nhà báo, chuyên gia nghiên cứu, các chuyên gia làm luật và công chúng nói chung trên toàn thế giới. Ngày 13/10/2006, giải thưởng Nobel hòa bình đã được trao cho Muhammed Yunus và trước đó ông đã nhận được 61 giải thưởng quốc tế cho những đóng góp của ông đối với tín dụng nông thôn. Ông là người đi tiên phong trong việc giới thiệu và áp dụng phương thức tín dụng vi mô hỗ trợ người nghèo thoát nghèo.
Ông đã nổi tiếng trên thế giới từ những năm cuối thập kỷ 70 với hoạt động tín dụng vi mô cho khu vực nông thôn và ngân hàng Grameen tại Bangladesh. Giải thưởng này là sự ghi nhận của thế giới về vai trò của tín dụng vi mô trong cuộc chiến chống đói nghèo và hỗ trợ nông thôn phát triển. “Nó cũng nhấn mạnh tới sự phát triển của tín dụng quy mô nhỏ không chỉ còn trong khuôn khổ lĩnh vực phát triển, mà đã trở thành một phần của lĩnh vực tín dụng hiện đại” 1. Khái niệm hệ thống tín dụng nông thôn Các tổ chức tín dụng nông thôn đã ra đời từ khi có hoạt động tín dụng, chủ yếu là hoạt động của khu vực phi chính thức như các phường hụi họ, vay nợ lẫn nhau giữa bạn bè, họ hàng và những người cho vay nặng lãi.
Đầu những năm 50, các chiến lược phát triển của những nước thuộc thế giới thứ ba tập trung cho phát triển nông nghiệp, giúp đỡ người nghèo và đáp ứng những nhu cầu cơ bản của dân chúng ở nông thôn đã thực hiện những chương trình cung cấp tín dụng lãi suất thấp với mục tiêu phá vỡ vòng luẩn quẩn nghèo đói ở khu vực nông thôn. Vào những năm 70 của thế kỷ XX, các cơ quan thuộc sở hữu Nhà nước chiếm ưu thế trong việc cung cấp tín dụng sản xuất đến những người trước kia chưa bao giờ tiếp cận được các hình thức tín dụng chính thức. Tuy nhiên mô hình tín dụng bao cấp này đã dẫn đến thất thoát một lượng vốn lớn và yêu cầu phải tái cấp vốn liên tục để tiếp tục hoạt động. Điều đó chứng tỏ rằng cần phải đưa các giải pháp theo cơ chế thị trường cho tín dụng nông thôn, dẫn đến một cách tiếp cận mới coi tín dụng nông thôn như một bộ phận không thể tách rời của toàn bộ hệ thống tín dụng.
Hệ thống tín dụng nông thôn (HTTDNT) là khối liên kết các tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng cho các cá nhân và tổ chức (dân chúng, doanh nghiệp, các tổ chức khác) trong khu vực nông thôn, hiện hữu trên địa bàn nông thôn, với mục tiêu trực tiếp phục vụ cho nhu cầu địa bàn nông thôn. Các khách hàng của HTTDNT thường ít tiếp cận được hoặc không tiếp cận được dịch vụ tín dụng của các ngân hàng thương mại. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 HTTDNT thường cung cấp các dịch vụ như nhận tiền gửi, cho vay, chuyển tiền, bảo hiểm. Bản chất, chức năng và hình thức tín dụng 1.
Bản chất tín dụng Tín dụng rất phong phú và đa dạng về hình thức và bản chất của tín dụng, được thể hiện ở các phương diện sau: + Thứ nhất, người sở hữu tiền hoặc hàng hoá chuyển giao cho người khác sử dụng trong một thời gian nhất định. + Thứ hai, sau khi nhận được vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng để thoả mãn một hay một số mục đích nhất định. + Thứ ba, đến thời hạn do hai bên thoả thuận, người vay hoàn trả lại cho người cho vay một giá trị lớn hơn vốn vay ban đầu. Phần tăng thêm này được gọi là tiền lãi.
Bản chất của tín dụng dù được diễn đạt bằng nhiều cách, nhưng đều đề cập đến mối quan hệ, một bên là người cho vay và một bên là người đi vay. Trong mối quan hệ này nó được ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, chính sách lãi suất và pháp luật hiện hành. Sự hoàn trả là đặc trung thuộc về bản chất vận động của tín dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác. Chức năng của hệ thống tín dụng Hệ thống tín dụng có các chức năng quan trọng trong đó có ba chức năng cơ bản sau : - Thứ nhất: Chức năng phân phối lại tài sản dưới hình thức vốn tiền tệ của người tạm thời chưa dùng đến chuyển cho người tạm thời cần sử dụng.
Đó là chuyển nhượng quyền sử dụng vốn. Việc luân chuyển vốn tiền tề này xuất phát từ lợi ích của cả hai bên, được thực hiện một cách tự nguyện theo thoả thuận xuất phát từ chức năng của tài chính về phân phối của cải bằng tiền, chức năng bảo đảm vốn và thúc đẩy vận động liên tục tiền vốn. Các tổ chức, cá nhân có vốn tiền tệ tạm thời chưa dùng đến không muốn vốn đó nằm im, không sinh lời nên đã nhượng cho tổ chức cá nhân khác thiếu vốn cần sử dụng tạo ra hiệu quả kinh tế xã hội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 Nhà nước, ngân hàng đã sử dụng chức năng này của tín dụng để thu hút vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế.
Các tổ chức, cá nhân thừa vốn và thiếu vốn được thực hiện thông qua tín dụng, vừa khắc phục được tình trạng thừa thiếu vốn, vừa phát huy hiệu quả sử dụng vốn.