Chương 1 - TỔNG QUAN 1.1 Đặc điểm thực vật của loài Artocarpus nigrifolius C. Wu Chi Artocarpus thuộc họ dâu tằm (Moraceae), là một họ thực vật lớn gồm khoảng 60 chi và hơn 1400 loài, phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á. Trên thế giới chi này gồm khoảng 60 loài, phần lớn là cây thân gỗ, có nhựa mủ màu trắng. Hoa đơn tính cùng gốc.
Hoa đực gồm hai hay bốn phiến, một nhị với chỉ nhị ở giữa với 2 bao phấn ở hai bên, mở bởi hai kẽ nứt. Hoa cái có màu hơi xanh, nhỏ phát triển thành gié nạc, ngắn. Sau khi thụ phấn chúng phát triển thành quả tụ, có thể phát triển rất to. Lá kèm từ nhỏ như ở Artocarpus integer (Thunb.) Merr (mít tố nữ) và nguyên cho tới lớn và xẻ thùy Artocarpus communis Forst.
Một số loài trong chi có quả ăn được nên được trồng ở nhiều nước trên thế giới như Artocarpus heterophyllus, Artocarpus integer, Artocarpus rigidus, Artocarpus tokinensis. Theo Phạm Hoàng Hộ, chi Artocarpus ở Việt Nam có 15 loài và dưới loài [4]. Loài Artocarpus nigrifolius C. Wu Cây thân gỗ cao 15m, mọc thẳng, cành nâu sậm, vỏ sần sùi có nếp nhăn dày 1- 2,5 mm.
Chồi non ngắn lá có lông màu nâu đen rỉ sắt. Cuống lá đen, mỏng, dài 1,8 -2,8 cm có lông màu nâu đen khi còn non, phiến lá hình elip hoặc elip hẹp, kích thước 5-11 x 2-4 cm, mỏng như giấy, phía xa gân giữa lá có màu xanh nâu và lông rất nhỏ màu trắng, phía gần gân giữa lá có màu gần như đen và không lông, gần cuống lá có hình nêm rộng, gân lá không đối xứng; phần đuôi lá có chóp nhọn dài 0,5-1,5cm. Phần gân lá chính và gân loại 2 nổi rõ ở cả hai mặt lá, gân loại 3 không lộ. Cụm hoa đơn tính mọc ở nách lá.
Cụm hoa đực có kích thước 4-7mm hoa đôi, cụm hoa cái có màu trắng khi còn non, màu xanh sậm khi khô, hình nón ngược, 5- 9mm, có nốt sần, chỏm cánh hoa có dạng tù, cuống dài 1-1,5 cm, mỏng. Tiến hành thu mẫu tại các tỉnh: Sơn La, Phú Thọ thu tiêu bản và vật mẫu cành, lá, quả. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Đặc ặc điểm đ ể thực vật loài Mít lá đen Artocarpus nigrifolius C. Cành Mít lá đen ồi Mít lá đen.
Chồi Artocarpus nigrifolius C.Wu là một loài mới được ợc nghiên nghi cứu và bổ sung ước ta, do đó, các tài liệu ghi nhận vào hệ sinh vật của nư ậ vềề chúng ch chưa nhiều; rất cần được nghiên cứu.2 Ứng dụng ng trong y học h cổ truyền của chi Artocarpus oài trong chi Artocarpus được dùng trong y học Nhiều loài ọc cổ truyền ở các nước Đông Nam Á đểể điều đ ều trị các bệnh như kháng viêm, sốt ốt rét, trị ung nhọt, nh áp xe, tiêu chảy. Thịt quả và hạt được đư sử dụng như thuốc bổ có tác dụng làm àm mát, hạ h huyết áp, rễ cây uống để trị bệnh tiêu êu chảy ế sữa ch và hạ sốt, lá giúp tăng tiết ữa cho phụ ph nữ, động vật có vú; tro đốt của lá là loại ại thuốc ền nhiều nước …[31] thu trị giun trong y học cổ truyền Ở nước ta, a, dân gian dùng dù lá xa kê (Artocarpus altilis)) chữa ch phù thũng, viêm ằng cách nấu gan vàng da bằng n là tươi để uống. Ngoài ài ra, theo lương lươ y Nguyễn Công Đức, lá xa kêê còn có thể ốc khác trị được th phối hợp với một số loại thuốc đ một số bệnh ậ tiểu như gút, sỏi thận, ểu đđường týp 2, chứng huyết áp cao dao động [[2]. Thịt quả xa kê TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thường dùng để ăn, quả còn xanh có bột dùng để làm thực phẩm.
Hạt xa kê luộc hoặc rang ăn ngon như hạt rẻ có tác dụng lợi trung tiện, kích dục. Artocarpus altilis không chỉ làm thức ăn chăn nuôi, lá của nó được sử dụng để điều trị xơ gan, tăng huyết áp và bệnh tiểu đường ở Indonesia [30]. Ở Tân đảo, rễ cây được dùng để trị hen và các rối loạn dạ dày, ruột, một số rối loạn khi mang thai, đau răng miệng và trị bệnh về da. Ở Papua Niu- Guinea, vỏ cây được dùng để trị bệnh ghẻ; nhựa cây được pha loãng uống trị ỉa chảy và lỵ; lá dùng phối hợp với lá đu đủ giã với vôi cho đến khi có màu vàng, lấy hỗn hợp này đắp trị sưng háng, lá cũng được dùng trị đinh nhọt, sưng háng [3].
Thân và rễ loài Artocarpus altilis đã được sử dụng ở Đài Loan từ lâu để điều trị bệnh xơ gan và chứng tăng huyết áp. Ngoài ra chúng còn được dùng để kháng viêm, giải độc. Ở Ấn Độ, trong một nghiên cứu sàng lọc tác dụng dược lý của cao khô chiết từ vỏ và lá xa kê bằng cồn 500, các tác giả nhận thấy cao thô có tác dụng lợi tiểu rõ rệt trong thí nghiệm với chuột cống trắng so với lô đối chứng. Ở Trinidad và Banhamas, người ta dùng nước sắc lá xa kê để hạ huyết áp và trị hen suyễn, lá giã nát đắp trị tưa lưỡi, nước ép từ lá dùng như thuốc nhỏ tai, tro đốt từ lá dùng bôi lên da chữa nhiễm trùng và bột lá khô dùng để điều trị lá lách mở rộng.
Quả giã nát làm thuốc đắp lên vết sưng tấy giúp mau mưng mủ, hoa chữa đau răng bằng cách hơ nóng chà lên niếu xung quanh chỗ đau. Nhựa cây dùng để chữa trị bệnh về da và giảm đau thần kinh tọa, pha loãng uống trị tiêu chảy. Ở nước ta, hạt mít dai ( A. heterophyllus) được dùng trị ghẻ lở, sản hậu ít sữa.
Múi mít dùng chữa sốt rét rừng và giải say rượu [1]. Hạt mít nướng hay luộc ăn thì hạ khí, thông trung tiện. Lá mít được dùng làm thuốc lợi sữa, chữa ăn uống không tiêu, ỉa chảy, và trị huyết áp cao. Lá mít giã đắp cũng làm mụn nhọt bớt sưng đau.
Gỗ và lá mít còn được dùng làm thuốc an thần, chữa huyết áp cao hay những trường hợp co quắp: mài gỗ mít lên miếng đá nháp hay chỗ nháp của trôn bát, cho thêm ít nước đến khi nước trở nên đục nhiều thì uống với liều hàng ngày là 6-10g. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Gỗ và nhựa mít làm tiêu sưng, giải độc, chữa sưng tấy, mụn nhọt, dưới dạng sắc nước uống (gỗ) và bôi (nhựa). Rễ cây sắc nước uống trị ỉa chảy và cùng với vỏ trị các loại viêm gây sốt. Dịch nhựa cây thường được dùng đắp rút mủ mụn nhọt, còn dùng trị bệnh giang mai và trừ giun.
Dái mít dùng chữa sa dạ con và lõi mít có tính gây sảy thai[2]. Ở Ấn Độ người ta dùng lá chữa các bệnh ngoài da và trị rắn cắn [31]. Rễ sắc uống trị tiêu chảy và vàng da. Dịch ép của cây đắp vào chỗ sưng hạch và áp xe để làm mưng mủ.
Quả xanh có tác dụng làm săn, quả chin nhuận tràng. Nhựa mủ bôi trị vết thương [2]. Ở Indonesia, dịch ép quả mít non có trong thành phần một thuốc uống trị sốt. Quả non trộn với cao khô từ lá cây Uncaria gambir ăn trị đau bụng.
Lá hoặc quả có trong thành phần bài thuốc chữa uồng trị tiêu chảy, nước sắc lá giã nát dùng làm thuốc chữa đau răng. Hạt Chay lá to (Artocarpus lakocha) ở Ấn Độ được dùng làm thuốc xổ, vỏ cây dùng tán bột đắp vết thương để rút mủ hoặc pha thuốc đắp mụn nhọt và các vết nứt nẻ ở da. Ở Thái Lan, nạc của trái được xem như thuốc bổ gan, gỗ, quả chay sắc nước uống dùng trị giun kim, giun đũa, sán xơ mít và dùng ngoài da trị ghẻ. Ở nước ta, vỏ, mủ trị đau lá lách; hột làm thuốc xổ.
Các loại trái cây Artocarpus lakocha thường được ăn tươi. Bột trái cây ăn được và dùng như là một loại thuốc bổ cho gan. Ở Thái Lan, bột Artocarpus lakoocha Roxb còn gọi là Puag-Haad được sử dụng làm thuốc trị sán dây truyền thống [8].Vỏ cây có chứa 8,5% tannin được nhai như trầu và cũng được sử dụng để điều trị bệnh về da. Chay Bắc bộ (Artocarpus tonkinensis) có quả dùng để chữa phổi nóng, ho ra máu, thổ huyết, chảy máu mũi, đau họng, dạ dày thiếu toan, kém ăn.
Nếu không có quả chay tươi có thể dùng quả chay khô hay rễ chay sắc uống. Rễ chay dùng chữa tê thấp, đau lưng, mỏi gối và chữa rong kinh, bạch đới; còn dùng làm chắc chân răng. Liều dùng 20-40g dạng thuốc sắc. Ngoài ra, những loài khác trong chi Artocarpus cũng được sử dụng trong y học dân gian ở các nước Đông Nam Á từ lâu: nhựa từ Artocarpus lowii truyền TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thống được sử dụng như một loại dầu ăn và thuốc mỡ trong y học dân gian.
Artocarpus chempeden là một trong các loại thuốc dân tộc Indonesia; hạt cây đã được sử dụng để chống lại tiêu chảy và rễ của nó chống lại bệnh sốt rét. Phía Tây Java, Artocarpus elasticus Reinw. ex Blume đã được sử dụng để điều trị viêm, tránh thai cho nữ (vỏ cây), bệnh lỵ và lá non cho điều trị bệnh lao. Bên cạnh việc sử dụng làm thuốc, các loài trong chi Artocarpus được sử dụng như một loại thực phẩm và vật liệu xây dựng nhà ở [31].3 Hoạt tính sinh học và thành phần hóa học của một số loài thuộc chi Artocarpus Với việc được sử dụng khá phổ biến và hiệu quả trong y học cổ truyền, chi Artocarpus đã sớm được các nhà khoa học trên thế giới để ý.
Từ chi này, rất nhiều các hợp chất sinh học thứ cấp đã được tách chiết, tinh sạch, sàng lọc hoạt tính và nhiều trong số chúng có hoạt tính tốt, hứa hẹn khả năng được áp dụng vào thực tiễn. Các hoạt tính thường được thăm dò là: hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm, gây độc với các tế bào ung thư và khả năng chống các gốc oxy hóa. Ngoài ra, tùy theo những tác dụng của loài trong y học dân gian, tùy theo tính chất của các nhóm chất, người ta có thể thăm dò các hoạt tính khác như: tính kháng virus, ức chế các enzyme, chống tiểu đường… Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu về những hoạt tính sinh học của các hợp chất đã được tách từ các loài thuộc chi Artocarpus.1 Hoạt tính kháng sinh: Cao chiết methanol vỏ cây loài Artocarpus communis và một số hợp chất tự nhiên tinh sạch được từ loài này như artonin E (1), 2-[(3,5-dihydroxyl)-(Z)-4-(3- methylbut-1-enyl) phenyl]benzofuran-6-ol (2) có khả năng kháng nhiều chủng vi sinh vật như : P. Trong đó (1) và (2) cho giá trị MIC là 32 µg/ml với P.aeruginosa, giá trị này cao hơn cả chất kháng sinh đối chiếu là chloramphenicol [32].
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.