Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây bán chi liên

Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây bán chi liên, khám phá tiềm năng ứng dụng trong y học và bảo vệ sức khỏe.

Trường đại học

Đại học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Hóa hữu cơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ khoa học

2018

76
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Khái quát về cây bán chi liên (Scutellaria barbata)

1.2. Đặc điểm thực vật của cây Bán chi liên, loài Elschotzia, họ Lamiaceae

1.3. Hoa bán chi liên

1.4. Lá cây bán chi liên

1.5. Rễ cây bán chi liên

1.6. Thân cây bán chi liên

1.7. Nguồn gốc và phân loại

1.8. Chế biến và bảo quản

1.9. Dược tính và công dụng

1.9.1. Tác dụng trị liệu

1.9.2. Những nghiên cứu khoa học về cây bán chi liên

1.10. Thành phần hóa học

1.10.1. Các hợp chất Flavonoid

1.10.2. Hợp chất Alkaloids

1.10.3. Các hợp chất khác

1.11. Hoạt tính sinh học của cây bán chi liên

1.11.1. Khả năng chống oxi hóa

1.11.2. Hoạt tính ức chế enzim -Glucosidase

1.12. Giới thiệu tổng quát về bệnh tiểu đường

1.13. Tổng quan về bệnh tiểu đường

1.14. Các nghiên cứu hóa thực vật chi Scutellaria

1.15. Tình hình nghiên cứu trong nước

2. CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và nguyên liệu nghiên cứu

2.2. Ngâm chiết mẫu nghiên cứu

2.3. Sắc kí khí khối phổ (GC/MS)

2.4. Sắc ký lớp mỏng (TLC)

2.5. Sắc ký cột thường (CC)

2.6. Phân tích các cặn chiết bằng sắc ký cột thường

2.7. Khảo sát một số chỉ số hóa học và hoạt tính sinh học

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Chiết các lớp chất từ mẫu thực vật bán chi liên

3.2. Khảo sát các dịch chiết trên sắc ký khí khối phổ GC/MS nhằm dự đoán được chất mong muốn

3.3. Khảo sát định tính dịch chiết n-hexan (HS) trên hệ thống sắc ký khí khối phổ (GC/MS)

3.4. Khảo sát định tính dịch chiết diclometan (DS) trên hệ thống sắc ký khí khối phổ (GC/MS)

3.5. Khảo sát các cặn chiết trên sắc ký lớp mỏng TLC nhằm tìm ra hệ dung môi tách thích hợp

3.6. Nhận dạng hợp chất phân lập được từ các phần chiết bằng hệ thống sắc ký khí khối phổ GC/MS

3.6.1. Nhận dạng hợp chất phân lập được từ phần chiết diclometan (DS)

3.6.2. Nhận dạng hợp chất phân lập được từ phần chiết etylacetat (ES)

3.7. Khảo sát một số chỉ số hóa học và hoạt tính sinh học

3.7.1. Khảo sát hoạt tính chống oxi hóa

3.7.2. Hoạt tính ức chế enzym α-glucosidase

3.7.3. Khảo sát bắt gốc tự do DPPH

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học cây bán chi liên

Cây bán chi liên (Scutellaria barbata) là một loại thảo mộc quý, được biết đến với nhiều công dụng trong y học cổ truyền. Nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây này đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Cây bán chi liên không chỉ có giá trị trong việc điều trị bệnh mà còn là nguồn tài nguyên quý giá cho ngành dược phẩm. Việc hiểu rõ về cây bán chi liên sẽ giúp nâng cao giá trị sử dụng của nó trong y học hiện đại.

1.1. Cây bán chi liên Đặc điểm và phân loại

Cây bán chi liên thuộc họ Lamiaceae, có tên khoa học là Scutellaria barbata. Cây có chiều cao từ 0,2 đến 0,5m, với lá mọc đối và hoa có màu xanh tím. Cây thường mọc ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt là ở Việt Nam. Việc phân loại cây bán chi liên giúp xác định đúng nguồn gốc và ứng dụng của nó trong y học.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu cây bán chi liên

Nghiên cứu về cây bán chi liên không chỉ giúp phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học mà còn mở ra hướng đi mới trong việc phát triển thuốc điều trị. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cây bán chi liên có khả năng chống ung thư, kháng khuẩn và tăng cường hệ miễn dịch, từ đó khẳng định giá trị của nó trong y học.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu cây bán chi liên

Mặc dù cây bán chi liên đã được nghiên cứu nhiều, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề và thách thức cần giải quyết. Một trong những thách thức lớn nhất là việc xác định chính xác các thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây. Nhiều nghiên cứu hiện tại vẫn chưa đồng nhất về kết quả, dẫn đến khó khăn trong việc ứng dụng thực tiễn.

2.1. Khó khăn trong việc chiết xuất và phân tích thành phần hóa học

Quá trình chiết xuất các hợp chất từ cây bán chi liên thường gặp khó khăn do sự đa dạng của các hợp chất có trong cây. Việc lựa chọn phương pháp chiết xuất phù hợp là rất quan trọng để đảm bảo thu được các hợp chất có hoạt tính sinh học cao.

2.2. Thiếu thông tin về hoạt tính sinh học của các hợp chất

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về hoạt tính sinh học của cây bán chi liên, nhưng thông tin về cơ chế tác động của các hợp chất vẫn còn hạn chế. Điều này gây khó khăn trong việc phát triển các sản phẩm từ cây bán chi liên cho y học.

III. Phương pháp nghiên cứu chính trong phân tích cây bán chi liên

Để nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây bán chi liên, nhiều phương pháp hiện đại đã được áp dụng. Các phương pháp này không chỉ giúp xác định các hợp chất mà còn đánh giá hoạt tính sinh học của chúng.

3.1. Phương pháp chiết xuất và phân tích hóa học

Các phương pháp chiết xuất như sắc ký khí khối phổ (GC/MS) và sắc ký lớp mỏng (TLC) được sử dụng để phân tích thành phần hóa học của cây bán chi liên. Những phương pháp này giúp xác định các hợp chất chính có trong cây và đánh giá khả năng chiết xuất của chúng.

3.2. Đánh giá hoạt tính sinh học của các hợp chất

Hoạt tính sinh học của các hợp chất từ cây bán chi liên được đánh giá thông qua các thử nghiệm như khả năng chống oxi hóa và ức chế enzym α-glucosidase. Những thử nghiệm này giúp xác định tiềm năng ứng dụng của các hợp chất trong điều trị bệnh.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu cây bán chi liên

Kết quả nghiên cứu về cây bán chi liên đã chỉ ra rằng cây này có nhiều ứng dụng trong y học. Các hợp chất chiết xuất từ cây bán chi liên đã được chứng minh có khả năng điều trị nhiều bệnh lý, đặc biệt là ung thư.

4.1. Ứng dụng trong điều trị bệnh ung thư

Cây bán chi liên đã được nghiên cứu và chứng minh có khả năng chống ung thư hiệu quả. Các hợp chất như scutellarin và apigenin có tác dụng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư, mở ra hướng đi mới trong điều trị bệnh.

4.2. Khả năng kháng khuẩn và tăng cường miễn dịch

Nghiên cứu cho thấy cây bán chi liên có khả năng kháng khuẩn và tăng cường hệ miễn dịch. Điều này giúp cây trở thành một lựa chọn tiềm năng trong việc phát triển các sản phẩm hỗ trợ điều trị bệnh.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu cây bán chi liên

Nghiên cứu về cây bán chi liên đã mở ra nhiều cơ hội mới trong việc phát triển thuốc điều trị. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để làm rõ hơn về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây. Tương lai của cây bán chi liên trong y học là rất hứa hẹn.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc xác định rõ hơn các hợp chất có hoạt tính sinh học và cơ chế tác động của chúng. Điều này sẽ giúp nâng cao giá trị sử dụng của cây bán chi liên trong y học.

5.2. Tiềm năng ứng dụng trong y học hiện đại

Cây bán chi liên có tiềm năng lớn trong việc phát triển các sản phẩm y học mới. Việc kết hợp giữa y học cổ truyền và hiện đại sẽ giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị và nâng cao sức khỏe cộng đồng.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Khái quát về cây bán chi liên (Scutellaria barbata): Cây bán chi liên - Scutellaria barbata D. Don là một loại thảo mộc lâu năm phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Á, bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nepal, Ấn Độ, Myanmar, Việt Nam, Lào và Thái Lan. Thảo mộc này được sử dụng trong y học cổ truyền Việt Nam để điều trị mụn nhọt và viêm gan.

Nó cũng được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc như là một liệu pháp thảo dược cho các bệnh ung thư, viêm, các bệnh về nước tiểu, sốt và chấn thương. Loài này được D. Don miêu tả khoa học đầu tiên vào năm 1825.Đặc điểm thực vật của cây Bán chi liên, loài Elscholtzia ciliata, họ Lamiaceae Tên khoa học: Scutellaria barbata D.), thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae). Tên thông thường: Bán chi liên Tên gọi khác: Cỏ đa niên, Hoàng cầm râu, Nha loát thảo Hình 1.1: Cây bán chi liên 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mô tả chung: Bán chi liên là loại cỏ đa niên, thân cao 0,2-0,5m, thân không lông.Lá mọc đối, phiến xoan thon, dài 1-2cm, mép có răng đều, gân phụ 3-4 cặp; cuống ngắn, 1mm.

Cụm hoa dài 3-5cm, ở ngọn; lá bắc thon hẹp; đài hình chuông cao 2,5mm có 2 môi, môi trên mang một cái khiên (thuận) hình chóp có lông, rụng sớm, môi dưới tồn tại tràng màu xanh; có lông thưa, cao 7-9cm, chia 2 môi, môi trên 3 thuỳ, môi dưới tròn, miệng rộng, nhị 4, bao phấn có ít lông [4].Hoabán chi liên: Cánh hoa bán chi liên màu xanh tím, có lông thưa, cao 7 – 9mm. Cánh hoa chia 2 môi, môi trên 3 thùy, môi dưới tròn, miệng rộng. Nhị hoa đính vào 1/3 phần dưới của tràng, không thò ra ngoài. Chỉ nhị có lông ở gốc, bầu nhẵn.

Bao phấn ở nhị hoa có ít lông.2: Hoa của cây bán chi liên Cây thường ra hoa vào mùa xuân. Cụm hoa hoàng cầm râu dài 3 – 5cm, thường mọc ở ngọn cây. Đài hoa hình chuông cao 2,5mm, hoa bán chi liên có 2 môi. Môi trên mang hình dáng giống như cái khiên, có hình chóp, nhiều lông và thường rụng rất sớm.

Còn môi dưới thường lâu tàn hơn [4]. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lá cây bán chi liên: Phiến lá được giới hạn bởi biểu bì trên và biểu bì dưới. Tế bài biểu bì của lá xếp sít nhau cùng với sự có mặt của khí khổng và tầng cuticun.

Một số tế bào biểu bì kéo dài ra tạo thành lông che chở. Thịt lá có sự phân hóa thành mô giậu và mô xốp (đây là cây ưa sáng). Nằm phía trong biểu bì là hệ thống mô dày góc, xếp chủ yếu ở gân chính của lá. Bó mạch ở gân chính có cấu tạo tương tự như thân.

Bó mạch xếp thành vòng cung (2-3 bó) [4].3: Lá cây bán chi liên 1. Rễ cây bán chi liên: Trên lát cắt ngang rễ cây bán chi liên, phần vỏ và phần trụ phân biệt nhau rất rõ ràng. Ngoài cùng là tầng bần, tế bào có vách dày xếp thành các vòng đồng tâm và dãy xuyên tâm. Thích nghi với chức năng hấp thụ nước và muối khoáng hòa tan trong đất nên tầng cuticun không xuất hiện.

Sự có mặt của rất nhiều lông hút làm tăng diện tích tiếp xúc giữa rễ và đất, tăng khả năng hấp thụ nước và chất dinh dưỡng. Mô mềm vỏ chiếm hơn 60% diện tích mặt cắt ngang rễ, được cấu tạo bởi các tế bào có vách mỏng, xếp không sít nhau mà để lại một số khoảng gian bào. Mô mềm ít phân hóa có thể thực hiện chức năng của mô phân sinh, ngoài ra nó còn là nơi dự trữ nước và chất dinh 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nằm xen trong khối mô mềm vỏ cây bán chi liên ở một số nơi còn có tinh thể canxi oxalat.

Phần trụ rễ chiếm 30-40% độ dày của rễ. Vỏ trụ hoạt động phân sinh, các rễ bên được hình thành từ mô này. Bó mạch sắp xếp kiểu chồng chất, các bó mạch nằm sít nhau, tia ruột rất nhỏ. Số lượng bó mạch từ 6-13 bó, kích thước không đều nhau, gỗ sau lớn hơn gỗ trước [2].

Thân cây bán chi liên: Tiết diện thân cây có dạng hình vuông, xuất hiện bốn cánh ở bốn góc rất rõ ràng. Nằm phía ngoài cùng của thân cây là một lớp tế bài biểu bì có dạng hình phiến xếp sít nhau, không có khoảng gian bào. Một số tế bào biểu bì kéo dài ra tạo thành lông che chở. Ở phần thân đã phát triển thứ cấp, tầng bần xuất hiện thay thế cho lớp biểu bì [2].

Tế bào của tầng bần có dạng hình phiến, xếp thành những dãy xuyên tâm đều đặn. Vách tế bào bần thấm suberin, vách ngoài dày hơn hẳn so với vách bên và vách trong giúp cho nó thực hiện vai trò che chở. Lông che chở vẫn có ở tầng này. Tại bốn góc của thân cây mô cứng tập trung nhiều, giúp cho cây chống chịu được các tác động cơ học.

Đây là sự khác biệt giữa bán chi liên và các loài khác. Bình thường mô dày góc nằm ngay dưới biểu bì, tại những phần lồi ra của thân nơi đó có mặt của mô dày là nhiều nhất, mô cứng nằm phía trong mô dày, nhưng ở bán chi liên thì ngược lại. Mô mềm vỏ có dạng hình trứng, kích thước khá đều nhau. Mô cứng tại thành hình vòng cung, nằm đối diện với bó mạch.

Hệ thống mô dẫn xếp thành một vòng, bó mạch tập trung chủ yếu ở bốn góc của thân cây. Tế bào mô mềm ruột hoàn thiện sớm và phát triển. Ngược lại, các mô bao quanh vẫn có tính chất mô phân sinh, chúng tiếp tục mở rộng theo chiều dọc và bề ngang. Vì thế, ruột cây có thể được mở dần và tạo thành một ruột cây rỗng [2,4].

5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nguồn gốc và phân loại 1. Nguồn gốc cây bán chi liên Cây bán chi liên có tên khoa học là Scutellaria barbata D. Ở Trung Quốc cây có tên là Ban-Zhi-Lian và ở Hàn Quốc là Banjiryun, còn ở nước ta được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như Bán chi liên, Hoàng cầm râu, Thuẫn râu, Cỏ tín lá hẹp,… Cây bán chi liên mọc tự nhiên ở Việt Nam, nam Trung Quốc và Hàn Quốc.

Chúng sinh trưởng, phát triển trong điều kiện sáng và ẩm(ruộng hoang, bãi hoang,…) từ vùng thấp đến vùng cao. Ở nước ta, bán chi liên là một trong số những cây thuốc quý, có trữ lượng lớn và thường phân bố ở các tỉnh:Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Hà Nội, Hòa Bình, Hải Dương, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị. Phân loại Phân loại khoa học của cây bán chi liên [4]: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Thực vật có hoa (Magnoliophyta) Lớp: Hai lá mầm (Magnoliopsida) Bộ: Hoa môi (Lamiales) Họ: Hoa môi (Lamiaceae) Chi: Scutellaria Loài: S. Chế biến và bảo quản Ở Việt Nam, trong các bài thuốc đông y người ta sử dụng toàn bộ cây bán chi liên để làm thuốc.

Do đó, việc thu hái, chế biến đúng cách có ảnh hưởng quan trọng đến tác dụng trị liệu của cây. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cây bán chi liên tươi thường được thu hái vào mùa xuân và mùa hè, khi cây ra hoa. Thời kì này cây thuốc chứa hàm lượng dược chất cao và dược tính mạnh nhất. Sau khi thu hái, ta cần phân loại, loại bỏ những loại thực vật không phải bán chi liên.

Sau đó rửa sạch và để cho ráo nước. Bước tiếp theo, để thuận lợi cho việc làm khô, ta nên cắt cây thuốc thành từng đoạn có độ dài 3–5cm. Phơi cây thuốc đã cắt nhỏ trong khoảng 3 – 5 nắng đến khi cây thuốc dậy mùi thơm đặc trưng thì có thể bảo quản và dùng dần [1]. Không chỉ về cách sử dụng, quá trình bảo quản thảo dược là vô cùng quan trọng.

Bởi nếu không được bảo quản tốt, nấm mốc, côn trùng và vi khuẩn có thể xâm nhập làm biến đổi thành phần dược chất. Khi đó, không những hiệu quả điều trị bệnh giảm đi mà còn có thể gây ra tác dụng không mong muốn khi sử dụng.Với khí hậu nóng ẩm như ở nước ta, việc bảo quản thảo dược khô không hề đơn giản. Nhất là với loại dễ bị nấm mốc như bán chi liên. Sau khi bào chế thành công, ta nên thực hiện bảo quản như sau: + Bảo quản trong các bao bì dày, tốt nhất bao bì nên bằng sắt, tôn hoặc nhựa.

Nếu số lượng nhỏ, bảo quản trong bình thủy tinh có đậy nắp là hợp lý. + Dưới đáy bình bảo quản nên sử dụng thuốc chống ẩm ở mức độ vừa phải. + Môi trường bảo quản cần thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp chiếu vào sản phẩm.Nên để ở nơi cao, cách mặt đất khoảng 1m để tránh khí ẩm từ mặt đất. + Tránh xa những nơi ẩm thấp và nhiều côn trùng.

Dược tính và công dụng 1. Tác dụng trị liệu Cây bán chi liên có tính mát, vị đắng nên có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, giải độc, giảm các cơn đau, chống lại các khối u từ giai đoạn đầu. Ngoài ra, bán chi liên còn được biết đến như một vị thuốc trị các bệnh về viêm phổi, viêm ruột thừa, viêm gan, xơ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gan cổ trướng, ung thư gan, ưng thư phổi v.v… Tính mát còn có tác dụng trị các loại sưng đau, mụn nhọt, viêm mủ, trị các vết cắn do sâu bọ đốt. Song song với ích mẫu, bán chi liên cũng là loại dược thảo rất tốt để thay thế trị các bệnh phụ khoa.

Một số bệnh có thể dùng bán chi liên để điều trị [1,3]: + Bệnh đái tháo đường: Đái tháo đường được coi là căn bệnh phổ biến trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Bán chi liên dùng một lượng nhỏ từ 25-30gam sắc lên để lấy nước uống là vị thuốc rất tốt cho bệnh đái tháo đường [3]. + Viêm gan: Hơn 70% người Việt Nam bị nhiễm viêm gan B, bán chi liên kết hợp với nhân trần, củ cốt khí, cỏ luông, mã đề kim, tử kim ngưu bồ công anh sắc nước để uống. + Ung thư gan: Ung thư gan là căn bệnh chuyển thể từ viêm gan, hoặc do người bệnh dùng các chất kích thích như bia rượu quá độ.

Bán chi liên khi kết hợp với bạch hoa xà thiệt thảo, kê cốt thảo viễn chí nhật đều 30g, sắc uống. Bán chi liên, hoàng mao nhĩ thảo (Hedyotis chrysotricha), bán chi liên ý dĩ nhân đều 30g, rau má mỡ 60g, sắc uống. Bán chi liên, bạch hoa xà thiệt thảo, sinh địa đều 30g, chích miết giáp, uất kim, trạch tả, lá vạn tuế đều 15g, nhân sâm 10g (gói riêng, chia làm 3 lần, hòa tan uống).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ