MỞ ĐẦU Cùng với nhiều tiến bộ của y học mới , nhƣ̃ng phƣơng pháp chƣ̃a bê ̣nh, nhƣ̃ng bài thuốc dân gian lấy nguyên liê ̣u tƣ̀ tƣ̣ nhiên vẫn song hành và đóng góp phầ n không nhỏ vào viê ̣c phòng và chƣ̃a bê ̣nh. Thiên nhiên là một kho thuốc khổng lồ vẫn chƣa đƣơ ̣c khám phá hết. Do những đặc điểm khí hậu , vị trí và địa hình đã tạo cho nƣớc ta một hệ động thực vật đa dạng phong phú. Theo số liệu thống kê gần đây cho biết Việt Nam có 3948 loài cây thuộc 307 họ thực vật và nấm đƣợc sử dụng làm thuốc chữa bệnh trong nhân dân [83].
Nguồn tài nguyên thực vật và cây thuốc này đang đƣợc đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển các ứng dụng trong y dƣợc. Đây chính là tiềm năng to lớn mà chúng ta cần phải nghiên cƣ́u và khai thác. Chi Glycosmis đã đƣơ ̣c nghiên cƣ́u tƣ̀ nhiề u năm nay , ở nhiều quốc gia. Không it́ các hơ ̣p chấ t có dƣơ ̣c tin ́ h khác nhau , đă ̣c biê ̣t là khả năng gây đô ̣c các dòng tế bào ung thƣ, đã đƣơ ̣c phân lâ ̣p tƣ̀ các loài thuô ̣c chi này.
Cây Glycosmis petelotii thu hái tại Việt Nam đã đƣợc nghiên cứu từ năm 1999 [50]. Qua đánh giá hoạt tính giãn cơ trơn động mạch chuột thực nghiệm, chúng tôi phát hiện dich ̣ chiế t MeOH của cây Glycosmis petelotii có tác dụng cao, đă ̣c biê ̣t là dịch phân bố Clorofom. Điề u này mở ra mô ̣t hƣớng nghiên cƣ́u mới đố i với loài Glycosmis petelotii. Nhằm mục đích đi sâu nghiên cứu thêm về thành phần hóa học và tác dụng dƣợc lý của cây này, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: "Đóng góp mới về nghiên cƣ́ u thành phầ n hóa ho ̣c loài C ơm rƣơ ̣u (Glycosmis petelotii) ở Việt Nam'' với nội dung nghiên cứu nhƣ sau: 1.
Nghiên cứu thành phần hóa học của loài thực vật trên 2. Đánh giá hoạt tính các hợp chất thiên nhiên với các phép thử sinh học phân tử hiện đại theo định hƣớng chữa bệnh tim mạch và chống ung thƣ. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luâ ̣n văn tha ̣c si ̃ 2012 Việc nghiên cứu có chọn lọc nguồn tài nguyên cây thuốc trong nƣớc, có hợp tác quốc tế trong việc đánh giá tác dụng sinh học trên các phép thử sinh học hiện đại. Quá trình thực hiện đề tài , chúng tôi đã phân lập đƣợc một hợp chất mới trong dịch phân bố Clorofom của cây, hƣ́a he ̣n có hoa ̣t tính cao với bê ̣nh tim ma ̣ch.
Luận án hy vọng đóng góp đƣợc nhiều kết quả mới, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luâ ̣n văn tha ̣c si ̃ 2012 CHƢƠNG 1. Đặc điểm hình thái và phân bố Họ Cam (danh pháp khoa học: Rutaceae). Theo hệ thống phân loại thực vật của Engler, họ Cam quýt Rutacea chia làm 4 phân ho ̣ bao gồm Rutoideae, Toddaloideae, Rhabdodendroideae, Aurantioideae Clausena [72].
Chi Glycosmis là chi thuô ̣c phân ho ̣ Aurantioideae (=Citroideae), phân nhóm Clauseneae (Lukaseder et al. Phân nhóm Clauseneae có ba chi: Glycosmis, Clausena và Murraya [68]. Cả ba chi này đều có ở nƣớc ta. Trên thế giới, đến nay ngƣời ta đã ghi nhận chi Glycosmis có 66 loài với 124 thứ (varieties), phân bố ở trung và đông nam châu Á [72], [81].
Chúng là các loại cây bụi hay cây thân gỗ nhỏ có lá lông chim hay lá đơn với các tuyến trong mờ. Chồi đƣợc che phủ bởi lớp lông tơ ngắn và có màu gỉ sét. Hoa trắng, nhỏ, khó thấy, mọc thành chùm, sau khi đƣợc thụ phấn sẽ phát triển thành loại quả mọng có vỏ màu vàng, hồng, đỏ hay da cam [7]. Ở Việt Nam, Võ Văn Chi và các cộng sự đã mô tả 5 loài Glycosmis [7].
Phạm Hoàng Hộ cho biết 21 loài và đã mô tả khá chi tiết 20 loài Glycosmis, chiếm một phần ba tổng số loài trên thế giới [6]. Các loài thuô ̣c chi Glycosmis phân bố trong cả nƣớc, từ Bắc đến Nam bộ, thƣờng thấy mọc hoang ở vùng đất cao trung bình và vùng rừng núi. Chi Glycosmis có tên chung là Cơm rƣợu, lấy tên từ loài G. pentaphylla Correa, vì lá của cây này đƣợc dùng để làm thơm rƣợu [81].
Ngoài ra lá loài G. citrifolia cũng đƣợc dùng trong công thức men rƣợu [6]. Trong tổng số 21 loài tìm thấy ở Việt Nam, hiện mới chỉ có hai loài là G. Tám loài khác đã đƣợc nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính tính sinh học ở các nƣớc khác.
3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luâ ̣n văn tha ̣c si ̃ 2012 1. Sử dụng trong dân gian Chi Glycosmis có nhiều loài đã đƣợc sử dụng rộng rãi từ lâu trong dân gian ở nhiều nƣớc. Loài đƣợc biết đến nhiều nhất là G. Ngƣời Ấn Độ hay dùng loài này làm thuốc trị ho, thấp khớp, thiếu máu, tiêu chảy, vàng da.
Nƣớc ép từ lá cây này dùng để chữa sốt, bệnh về gan và trị giun, nƣớc sắc từ rễ dùng để chữa sƣng mặt, cành nhỏ có sợi còn có tác dụng làm săn và dùng để chải răng [2], [16]. Ở Trung Quốc, nƣớc sắc từ rễ và lá của G. pentaphylla đƣợc dùng để chữa ho, chữa thâm tím mình mẩy. Ở Malaysia ngƣời ta uống nƣớc sắc từ rễ để chữa sƣng mặt.
Hoa cây này trộn với hạt tiêu chữa ngứa ngáy; vỏ thân đƣợc dùng với Datura làm độc cá. Ở Inđônexia, nƣớc sắc rễ dùng để điều trị các bệnh về mật [57].) DC cũng là một cây thuốc phổ biến ở Ấn Độ với các tên nhƣ Ashshoura, Bon-nimbu, dùng để chữa sốt, đau gan và một số bệnh khác [21]. Ở Đài Loan, loài G. đƣợc sử dụng chữa ngứa ghẻ, mụn nhọt và sƣng u [76].
Nƣớc sắc từ lá của loài G. ovoidea Pierre dùng để điều trị đau nhức; nƣớc sắc từ rễ và lá cây G. dùng chống nhiễm trùng sau khi đẻ; hỗn hợp gồm vỏ, thân, rễ và lá với hạt tiêu đen, gạo dính dùng để chống nôn [57]. Ở Việt Nam, một số loài trong chi Glycosmis đã đƣợc sử dụng từ lâu trong dân gian.
pentaphylla đƣợc sử dụng nhiều nhất với rễ dùng để chữa phong thấp, chân tay nhức mỏi, bán thân bất toại, tích huyết ở phụ nữ sau khi sinh, mụn nhọt, chốc lở, rắn cắn. Lá của loài này đem sao vàng, sắc đặc cho phụ nữ uống sau khi sinh để kích thích tiêu hóa, làm ăn ngon miệng [50]. Rễ và lá của loài Cơm rƣợu hoa nhỏ (G. parviflora) đƣợc dùng làm thuốc trị ho, cảm mạo, ăn không tiêu, đầy bụng, đau sán khi đòn ngã sƣng ứ và nứt nẻ da [77].
citrifolia phối hợp với lá của cây Cơm rƣợu (G. pentaphylla) làm men tăng hiệu suất rƣợu. Rễ và lá của loài G. citrifolia này thƣờng đƣợc dùng để trị ho, cảm lạnh, khó tiêu hóa, đau dạ dày, đau thoát vị.
Ngoài ra đem giã tƣơi lá trộn với rƣợu còn đƣợc dùng để đắp trị đòn ngã tổn thƣơng. Khi bị phát cƣớc, tê cứng vì sƣơng giá đồng bào dân tộc thƣờng dùng lá của loài này nấu nƣớc để rửa phần đau [1]. Nguyễn Nghĩa Thìn còn 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luâ ̣n văn tha ̣c si ̃ 2012 cho biết, đồng bào Dao vùng Ba Vì - Hà Nội còn sử dụng loài Glycosmis lanceolata chữa bệnh về răng, tai và loài G. cyanocarpa chữa chó cắn, rắn cắn [5].
Thành phần hóa học chi Glycosmis Tác giả N. Cƣờng đã thống kê khá đầy đủ về thành phần hoá học chi Glycosmis [4]. Cho đến nay đã có các nghiên cứu hóa học về 21 loài Glycosmis: G. Các loài này phân bố ở các nƣớc Ấn Độ, Srilanka, Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Úc, New Caledonia, Nhật và Việt Nam.
Kể từ nghiên cứu đầu tiên về hóa học chi Glycosmis năm 1935 của Sikhibhushan cho tới nay đã có gần 200 chất đƣợc phân lập từ các loài Glycosmis. Trong đó, có 94 chất lần đầu đƣợc phát hiện trong tự nhiên. Alkaloit chiếm phần lớn trong tổng số chất đƣợc tìm thấy (hơn 140 chất), thuộc nhiều kiểu khung phong phú nhƣ arcriđon, quinazolin, quinolin, inđol, cacbazol, và đặc biệt là các hợp chất amit chứa lƣu huỳnh. Hầu hết các chất đƣợc phân lập từ lá, một số từ vỏ rễ, thân, hạt và hoa.
Các hợp chất tách ra từ chi Glycosmis cũng bao gồm những lớp chất phổ biến trong họ cam quýt nhƣ cumarin, tritecpenoit, flavonoit và alkaloit. Cùng với các lớp chất phong phú, đa dạng nhƣ vậy, chúng cũng có nhiều hoạt tính lý thú nhƣ kháng nấm, trừ sâu, chống sốt rét, giảm stress, chống ung thƣ, là tác nhân bảo vệ gan. Dƣới đây sẽ trình bày các loại hợp chất đã đƣợc phân lập từ các loài Glycosmis. Tecpenoit Năm 1996, Charkravarty đã phân lập đƣợc một monotecpen là 3,6-dihydroxy- 10-nor-7-megastigmen 1 từ loài G.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luâ ̣n văn tha ̣c si ̃ 2012 Cũng từ loài G. arborea này, đã phân lập và xác định cấu trúc của hai đồng phân lập thể là hai tritecpenoit kiểu khung lupeol, chỉ khác nhau về cấu hình tại vị trí 3, đó là arborinol A (dạng 3) 2 và arborinol B (dạng 3 ) 3 [59]. Flavonoit Flavonoid là một chuỗi polyphenolic gồm có 15 nguyên tử cacbon gồm hai vòng thơm liên lết với một vòng pyran và có đính các nhóm OH tự do ở các vòng. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luâ ̣n văn tha ̣c si ̃ 2012 Hình 1.1: Một số dạng flavonoid Trong thực vật flavonoid tồn tại chủ yếu ở hai dạng: - Dạng tự do (aglycol): thƣờng tan trong các dung môi hữu cơ nhƣ ete, axeton, cồn nhƣng hầu nhƣ không tan trong nƣớc.
- Dạng liên kết với gluxit (glycosid): tan trong nƣớc nhƣng không tan trong các dung môi không phân cực nhƣ axeton, benzen, cloroform. Flavonoid có mặt trong tất cả các bộ phận của các loài thực vật bậc cao, đặc biệt là hoa, tạo cho hoa có màu sắc để thu hút sâu bọ. Flavonoid có màu vàng là chủ yếu, ngoài ra còn có những chất màu xanh, tím, đỏ hoặc không màu. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luâ ̣n văn tha ̣c si ̃ 2012 Flavonoid có nhiều trong quả cam, mâm xôi, củ hành, chè xanh, rƣợu vang đỏ.
Với chế độ dinh dƣỡng hợp lý, mỗi ngƣời trung bình mỗi ngày cần từ 150 - 200mg flavonoid. Flavonoid là một nhóm các hợp chất đƣợc gọi là “những ngƣời thợ sửa chữa sinh hóa của thiên nhiên” nhờ vào khả năng sửa chữa các phản ứng cơ thể chống lại các hợp chất khác trong các dị ứng nguyên, virus và các chất sinh ung thƣ. Nhờ vậy chúng có đặc tính kháng viêm, kháng dị ứng, chống virus và chất sinh ung thƣ.