Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sự biến thiên một số chỉ tiêu hình thái hộp sọ của loài sóc bụng đỏ callosiurus erythraeus pallas 1779 ở việt nam

Nghiên cứu sự biến thiên hình thái hộp sọ loài sóc bụng đỏ Callosciurus erythraeus Pallas 1779 tại Việt Nam, cung cấp thông tin quý giá cho sinh học.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2018

74
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên và phân vùng địa động vật ở Việt Nam

1.2. Tổng quan về điều kiện tự nhiên của Việt Nam

1.3. Phân chia địa lý động vật Việt Nam

1.4. Khái quát về giống Sóc Callosciurus

1.5. Khái quát về loài Sóc bụng đỏ Callosciurus erythraeus

1.6. Khái quát về lịch sử nghiên cứu sóc

1.6.1. Lịch sử nghiên cứu sóc trên thế giới

1.6.2. Lịch sử nghiên cứu sóc ở Việt Nam

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp kiểm kê mẫu vật và bổ sung mẫu vật ngoài thực địa

2.2. Phân chia phân vùng địa lý theo đối tượng nghiên cứu

2.3. Phương pháp phân tích và xử lí số liệu

2.4. Phương pháp xử lí thống kê

2.5. Phương pháp phân tích thống kê

3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Đặc điểm hình thái

3.2. Phân tích thành phần chính (PCA) và mối tương quan giữa các đối tượng cùng nhóm (CVA)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu hình thái sọ sóc bụng đỏ ở Việt Nam

Nghiên cứu hình thái sọ sóc bụng đỏ, loài Callosciurus erythraeus, là một trong những lĩnh vực quan trọng trong động vật học tại Việt Nam. Sóc bụng đỏ không chỉ là một loài động vật phổ biến mà còn đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái. Việc nghiên cứu hình thái sọ giúp hiểu rõ hơn về sự biến thiên và phân bố của loài này trong các khu vực khác nhau của Việt Nam. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng sóc bụng đỏ có sự đa dạng về hình thái, đặc biệt là trong các chỉ tiêu hình thái sọ. Điều này mở ra nhiều cơ hội cho các nghiên cứu sâu hơn về sinh thái học và bảo tồn loài.

1.1. Khái quát về loài sóc bụng đỏ Callosciurus erythraeus

Sóc bụng đỏ Callosciurus erythraeus là một trong những loài sóc phổ biến ở Việt Nam. Loài này có kích thước trung bình, với bộ lông đặc trưng giữa mặt bụng và mặt lưng. Mặt lưng có màu nâu xanh, trong khi mặt bụng có màu đỏ sẫm. Sóc bụng đỏ sống chủ yếu trên cây và có chế độ ăn đa dạng, bao gồm thực vật và động vật nhỏ. Việc hiểu rõ về hình thái và sinh thái của loài này là rất cần thiết cho công tác bảo tồn.

1.2. Tình trạng bảo tồn sóc bụng đỏ ở Việt Nam

Tình trạng bảo tồn sóc bụng đỏ ở Việt Nam đang gặp nhiều thách thức. Mặc dù loài này phân bố rộng rãi, nhưng sự mất môi trường sống do khai thác rừng và đô thị hóa đang đe dọa quần thể của chúng. Các nghiên cứu về tình trạng bảo tồn và các biện pháp bảo vệ loài sóc bụng đỏ là rất cần thiết để đảm bảo sự tồn tại của chúng trong tương lai.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu hình thái sọ sóc bụng đỏ

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về sóc bụng đỏ, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề và thách thức trong việc nghiên cứu hình thái sọ của loài này. Một trong những thách thức lớn nhất là sự thiếu hụt dữ liệu về các chỉ tiêu hình thái sọ từ các khu vực khác nhau. Điều này dẫn đến việc khó khăn trong việc so sánh và phân tích sự biến thiên giữa các quần thể. Hơn nữa, việc phân loại và xác định các phân loài cũng gặp nhiều khó khăn do sự tương đồng về hình thái giữa các loài sóc.

2.1. Thiếu hụt dữ liệu hình thái sọ từ các khu vực khác nhau

Việc thiếu hụt dữ liệu hình thái sọ từ các khu vực khác nhau làm cho việc phân tích và so sánh trở nên khó khăn. Nhiều mẫu vật chưa được thu thập và nghiên cứu, dẫn đến việc không thể đánh giá đầy đủ sự biến thiên hình thái của loài sóc bụng đỏ. Cần có các chương trình nghiên cứu và thu thập mẫu vật từ nhiều khu vực khác nhau để có cái nhìn tổng quan hơn.

2.2. Khó khăn trong việc phân loại và xác định phân loài

Sự tương đồng về hình thái giữa các loài sóc khiến cho việc phân loại và xác định phân loài trở nên phức tạp. Nhiều nghiên cứu trước đây đã đưa ra các quan điểm khác nhau về số lượng phân loài của sóc bụng đỏ ở Việt Nam. Việc áp dụng các phương pháp phân tích hình thái hiện đại có thể giúp làm rõ vấn đề này.

III. Phương pháp nghiên cứu hình thái sọ sóc bụng đỏ hiệu quả

Để nghiên cứu hình thái sọ sóc bụng đỏ, các phương pháp nghiên cứu hiện đại cần được áp dụng. Phân tích hình thái sọ có thể được thực hiện thông qua việc thu thập mẫu vật từ các khu vực khác nhau và sử dụng các công cụ phân tích hình thái như PCA (Phân tích thành phần chính) và CVA (Phân tích phân tách nhóm). Những phương pháp này giúp đánh giá sự biến thiên hình thái và mối quan hệ giữa các quần thể sóc bụng đỏ.

3.1. Phương pháp thu thập mẫu vật và điều tra thực địa

Việc thu thập mẫu vật từ các khu vực khác nhau là rất quan trọng trong nghiên cứu hình thái sọ sóc bụng đỏ. Các nhà nghiên cứu cần thực hiện các cuộc điều tra thực địa để thu thập mẫu vật và ghi nhận các điều kiện môi trường sống. Điều này giúp đảm bảo rằng dữ liệu thu thập được phản ánh đúng sự biến thiên hình thái của loài.

3.2. Phân tích hình thái bằng PCA và CVA

Phân tích thành phần chính (PCA) và phân tích phân tách nhóm (CVA) là hai phương pháp quan trọng trong nghiên cứu hình thái sọ. PCA giúp xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự biến thiên hình thái, trong khi CVA giúp phân tách các nhóm quần thể dựa trên các chỉ tiêu hình thái. Việc áp dụng các phương pháp này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về sự biến thiên hình thái của sóc bụng đỏ.

IV. Kết quả nghiên cứu hình thái sọ sóc bụng đỏ tại Việt Nam

Kết quả nghiên cứu hình thái sọ sóc bụng đỏ cho thấy sự biến thiên rõ rệt giữa các quần thể ở các khu vực khác nhau. Các chỉ tiêu hình thái như chiều dài sọ, chiều rộng sọ và các đặc điểm khác đã được ghi nhận và phân tích. Những kết quả này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về loài sóc bụng đỏ mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho công tác bảo tồn và quản lý loài.

4.1. Đặc điểm hình thái sọ của sóc bụng đỏ

Các chỉ tiêu hình thái sọ của sóc bụng đỏ đã được ghi nhận và phân tích. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt về kích thước và hình dạng giữa các quần thể ở các khu vực khác nhau. Những đặc điểm này có thể liên quan đến điều kiện môi trường sống và sự thích nghi của loài.

4.2. Mối quan hệ giữa hình thái sọ và môi trường sống

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có mối quan hệ giữa hình thái sọ và môi trường sống của sóc bụng đỏ. Các quần thể sống ở các khu vực khác nhau có thể có sự thích nghi khác nhau về hình thái sọ, phản ánh sự tương tác giữa loài và môi trường sống của chúng.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu hình thái sọ sóc bụng đỏ

Kết luận từ nghiên cứu hình thái sọ sóc bụng đỏ cho thấy sự đa dạng và biến thiên của loài này ở Việt Nam. Những kết quả đạt được không chỉ cung cấp thông tin quan trọng cho công tác bảo tồn mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới trong tương lai. Cần tiếp tục thực hiện các nghiên cứu sâu hơn để hiểu rõ hơn về sự biến thiên hình thái và các yếu tố ảnh hưởng đến loài sóc bụng đỏ.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu hình thái sọ trong bảo tồn

Nghiên cứu hình thái sọ có vai trò quan trọng trong công tác bảo tồn sóc bụng đỏ. Những thông tin thu được từ nghiên cứu giúp xác định các quần thể cần được bảo vệ và quản lý. Việc hiểu rõ về sự biến thiên hình thái cũng giúp xây dựng các chiến lược bảo tồn hiệu quả hơn.

5.2. Hướng nghiên cứu tương lai về sóc bụng đỏ

Hướng nghiên cứu tương lai có thể tập trung vào việc áp dụng các công nghệ hiện đại trong phân tích hình thái và gen. Việc kết hợp giữa nghiên cứu hình thái và di truyền học sẽ giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển và thích nghi của loài sóc bụng đỏ trong môi trường tự nhiên.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Sóc là một trong những động vật mô hình trong nghiên cứu tập tính và sinh thái. Ngoại trừ sóc bay, phần lớn sóc hoạt động ban ngày và rất dễ quan sát. Sóc ăn thực vật, giúp phát tán thực vật, thụ phấn và đóng vai trò trong các dịch vụ sinh thái [53]. Sóc trên thế giới và ở Việt Nam gồm 3 dạng là Sóc bay, Sóc cây và Sóc đất, trong đó Sóc bụng đỏ Callosciurus erythraeus là một trong những đại diện phổ biến thuộc nhóm Sóc cây, phân bố rất rộng rãi [1, 2, 4, 5, 10, 11, 53].

Một số quan điểm cho rằng Sóc bụng đỏ ở Việt Nam gồm 4 phân loài [1, 4, 6, 10, 11]. Nhưng cũng có quan điểm cho rằng Sóc bụng đỏ ở Việt Nam gồm 5 phân loài [2, 18]. Hệ thống phân loại hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên các đặc điểm hình thái ngoài. Những nghiên cứu về Sóc bụng đỏ còn rất hạn chế, chưa có nghiên cứu một cách có hệ thống sự biến dị về màu lông và đặc điểm hình thái sọ hay mối quan hệ giữa biến dị hình thái ngoài và biến dị hình thái sọ của loài Sóc bụng đỏ ở Việt Nam.

Trên cơ sở số lượng mẫu vật hình thái bộ lông và hộp sọ của loài Sóc bụng đỏ C. erythraeus hiện có ở một số bảo tàng của Việt Nam, tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu sự biến thiên một số chỉ tiêu hình thái hộp sọ của loài Sóc bụng đỏ Callosciurus erythraeus (Pallas, 1779) ở Việt Nam” nhằm mục đích:  Xây dựng dữ liệu về một số chỉ tiêu hình thái sọ của loài Sóc bụng đỏ C. erythraeus ở Việt Nam.  Đánh giá sự biến thiên kích thước và kiểu hình một số chỉ tiêu hình thái hộp sọ giữa các quần thể của loài Sóc bụng đỏ C.

erythraeus ở các khu vực địa lý khác nhau của Việt Nam.  Bước đầu nhận định rào cản địa lý ảnh hưởng đến quan hệ của các quần thể Sóc bụng đỏ C. erythraues ở Việt Nam. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về điều kiện tự nhiên và phân vùng địa động vật ở Việt Nam 1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên của Việt Nam Vị trí: Việt Nam nằm trên bờ biển cực Đông Nam của lục địa Đông Nam Á, thuộc điểm nóng sinh học Indo-Burma, với tổng diện tích là 330,541km2. Lãnh thổ Việt Nam trải dài trên 15 vĩ độ từ 8025’độ vĩ Bắc tới 23024’độ vĩ Bắc [6, 9].

Địa hình, thủy văn: Địa hình của Việt Nam chủ yếu là đồi núi với khoảng ba phần tư diện tích là đồi núi thấp, một phần tư địa hình là đồng bằng với độ cao dưới 20m. Hai khu vực châu thổ lớn và đồng bằng là Châu thổ sông Hồng ở miền Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam. Ngoài ra, có dải đồng bằng hẹp chạy dọc ven biển miền Trung (Hình 1. Địa hình của miền Bắc Việt Nam (Theo Eleanor và cs, 2006) 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vùng núi của Việt Nam nằm chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung với 2 hệ thống dãy núi lớn là dãy Hoàng Liên Sơn ở miền Bắc và dãy Trường Sơn ở miền Trung.

Dãy Hoàng Liên Sơn nằm ở phía Tây sông Hồng, là phần cuối Đông Nam của dãy Hi-ma-lay-a, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, song song với sông Hồng. Ngoài ra, ở phía Đông Bắc còn có một hệ thống các dãy núi chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, tạo thành 4 cánh cung gồm: Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn và Đông Triều. Đặc điểm địa hình nổi bật ở khu vực miền Bắc là đá vôi. Do lịch sử địa chất hình thành lâu đời, cấu trúc đá vôi ở Đông Bắc phức tạp hơn ở Tây Bắc, gồm nhiều dạng khác nhau như dạng tròn, dạng nón hay dạng lõm.

Hai cấu trúc địa hình đá vôi lớn ở Cao Bằng, Bắc Sơn có những đỉnh cao từ 100 - 600 m và xen lẫn là các thung lũng. Vùng Tây Bắc có cấu trúc địa hình đá vôi đơn giản hơn. Ngoài ra, địa hình nổi bật ở khu vực Tây Bắc là cấu trúc đá granite. Cấu trúc đá granite chạy dọc theo phía Tây sông Hồng dài khoảng 675 km theo hướng Đông Nam.

Các dãy núi bị chia cắt, tạo thành những khu vực cách li địa lý. Do đó địa hình Đông Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung tương đối phức tạp (Hình 1. Các vùng núi ở miền Trung Việt Nam thuộc dãy Trường Sơn, có chiều dài khoảng 1200 km, chạy dọc theo biên giới với Lào ở phía Tây và kết thúc ở phía Nam thuộc Cao nguyên Đà Lạt. Dãy Trường Sơn có thể chia làm 3 vùng mà hiện nay, cách chia này vẫn được sử dụng để khoanh vùng các loài.

Bắt đầu từ tỉnh Nghệ An, lấy ranh giới là sông Cả cho tới Khe Sanh (tỉnh Quảng Trị). Vùng núi ở khu vực này khá thấp, có ít đỉnh cao hơn 2800 m. Khu vực này đặc trưng bởi địa hình đá vôi rộng lớn ở khu vực tỉnh Quảng Bình. Khu vực tiếp theo từ Khe Sanh (tỉnh Quảng Trị) cho tới Đèo Hải Vân (tỉnh Thừa Thiên-Huế).

Đặc điểm địa chất đáng chú ý là khối núi Kon Tum, địa hình đá granite lớn kéo dài 250 km theo hướng Bắc Nam. Khu vực còn lại của dãy Trường Sơn tính từ sông Ba - Đà Rằng (chảy qua 4 tỉnh miền Trung Việt Nam là Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk và Phú Yên) cho tới những vùng núi còn lại của Việt Nam và sông đổ thẳng ra biển ở cửa biển thuộc thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên. Hàng loạt các cao nguyên đá granite và bazan có các đỉnh núi nằm rải rác và cô lập. Có thể nói, dãy Trường Sơn với những dãy núi 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cắt ngang ra biển tạo thành những chia cắt địa lý tự nhiên cho khu vực miền Trung Việt Nam (Hình 1.

Địa hình của miền Trung và Nam Việt Nam (Theo Eleanor và cs, 2006) Theo Eleanor và cs (2006), Việt Nam có hệ thống sông ngòi lớn, phức tạp. Ở miền Bắc, sông Hồng và các phụ lưu của nó đóng vai trò quan trọng, chi phối địa hình. Bắt nguồn từ cao nguyên Vân Nam, sông Hồng chảy vào Việt Nam theo hướng Đông Nam. Ngoài ra, hai nhánh sông lớn là sông Lô ở phía Đông và sông Đà ở phía Tây chảy vào và hợp lại tại khu vực Phú Thọ và đổ ra qua 3 cửa sông Đáy, sông Thái Bình và sông Văn Úc ở khu vực châu thổ.

Hai con sông khác là sông Mã, và sông Cả chảy song song với sông Hồng phía Nam. Có thể nói, địa hình miền Bắc chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hệ thống các sông ngòi mà hơn hết là hệ thống sông Hồng, tạo nên những vùng ngăn cách địa lý rõ rệt và hình thành từ rất lâu qua hàng triệu năm. Ở miền Trung, đặc trưng cho chế độ thủy văn là những sông suối chảy từ 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sườn Đông dãy Trường Sơn đổ ra biển. Ở miền Nam, hệ thống sông Mê Kông có ý nghĩa quan trọng bậc nhất.

Sông Mê Kông đổ vào Việt Nam qua hai nhánh lớn là sông Tiền Giang và sông Hậu Giang rồi đổ qua vùng châu thổ với chín cửa sông lớn chảy thẳng ra biển (Hình1. Phân chia địa lý động vật Việt Nam Lê Vũ Khôi và cs (2015) cho rằng, có nhiều ý kiến khác nhau về phân chia địa lý động vật trên lãnh thổ Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu từng nhóm động vật riêng biệt [6]. Trong công bố này, các tác giả đã liệt kê một số công trình công bố về phân chia phân vùng địa lý theo đối tượng nghiên cứu đặc thù. Theo quan điểm của Trần Kiên và Hoàng Xuân Quang (1992), khu hệ lưỡng cư bò sát ở Việt Nam có thể được phân chia ra bảy phân vùng địa lý động vật: Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ Thanh Nghệ Tĩnh, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ, Nam Bộ và Đồng bằng Nam Bộ [7].

Khi nghiên cứu khu hệ chim, Võ Quý và Nguyễn Cử (1995) đã phân chia lục địa Việt Nam thành sáu khu địa lý động vật: Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ [8]. Trong những nghiên cứu về thú của Đào Văn Tiến (1985), Cao Văn Sung (1980), Đặng Huy Huỳnh và cs (2007), Đặng Ngọc Cần và cs (2008), Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009) và Lê Vũ Khôi và cs (2015), phân vùng địa lý động vật của khu hệ thú được chia thành năm khu: Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trường Sơn, Nam Trường Sơn (Tây Nguyên) và Nam Bộ [1, 2, 3, 6, 10, 11]. Trong nghiên cứu về Khu hệ Gặm nhấm ở Việt Nam, Cao Văn Sung (1980) đã xác định vùng phân bố và ranh giới của một số loài gặm nhấm ở Việt Nam [2]. Lê Vũ Khôi (2000) đã xác định một số loài đặc hữu địa phương trong đó có loài Sóc bụng đỏ đuôi hoe (C.

cucphuongensis) phân bố ở khu vực Vườn quốc gia Cúc phương, tỉnh Ninh Bình [5]. Dãy núi Hoàng Liên Sơn đóng vai trò phân chia khu vực Đông Bắc, Tây Bắc. Sông Cả là ranh giới tự nhiên giữa khu Tây Bắc và Bắc Trung Bộ [11]. Có thể thấy, các dãy núi, các sông lớn có ý nghĩa quan trọng trong việc phân vùng địa lý động vật, hình thành nên các quần thể tách biệt.

Trong đó, về núi cao có thể kể đến dãy Hoàng Liên Sơn là chướng ngại địa lý phân biệt giữa Đông Bắc và Tây Bắc, đèo Hải Vân phân chia khu Bắc Trường 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sơn và Nam Trường Sơn. Về sông lớn, sông Hồng và sông Cửu Long đóng vai trò quan trọng như chướng ngại tự nhiên, ngăn cản sự di chuyển của các loài thú nói chung và sóc nói riêng, góp phần hình thành nên những quần thể cách li địa lý [5]. Khái quát về giống Sóc Callosciurus. Họ Sóc Sciuridae thuộc Bộ Gặm nhấm Rodentia, lớp Thú Mammalia là một trong những họ có mức độ đa dạng loài, phân loài lớn nhất hiện nay [52].

Theo phân loại hiện nay của Thorington et al. Một số loài của giống Callosciurus phân bố ở phía Tây sông Irrawaddy (My-an-ma), đầu nguồn từ phía Bắc bang Ka-chin. Đây là nơi hợp lưu của hai con sông Ma-li Hka từ phía Tây, thượng nguồn ở phía Nam Tây Tạng (Trung Quốc) và sông N'Mai Hka ở phía Đông, đầu nguồn ở miền Đông bang Ka-chin (My-an-ma). Ngoài ra, chúng còn phân bố ở một vài địa điểm phía Bắc Ấn Độ [35].

Tuy nhiên, hầu hết phân bố của giống Callosciurus ở phía Đông của sông Irrawaddy ở khu vực Nam Á, Nam Trung Quốc, gồm: ba loài ở Thái Lan, hai loài ở Lào (trong đó C.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ