MỞ ĐẦU LÍ DO CHỌN ĐỀ T I Nhông cát Leiolepis guttata (Cuvier, 1829) có nhiều tên gọi khác tùy theo một số địa phƣơng gồm: nhông biển, kỳ nhông, nhông nhông, con dông hoặc con chông (Nguyễn Lân Hùng, 2010)[17]. Tại tỉnh Bình Thuận, nhông cát có tên là dông khu Lê (vì chúng sống trong khu vực Chiến khu Lê của huyện Bắc Bình). Tên tiếng Anh của nhông cát là Spotted butterfly lizard, tiếng Pháp là Agame-papillon géant (Malaisse và cộng sự, 2014; Trần Tình, 2015)[37,49]. Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc thực hiện các nội dung nghiên cứu kế tiếp, nhông cát Leiolepis guttata (Cuvier, 1829) sẽ đƣợc gọi tắt là nhông cát.
Nhông cát sống thích nghi với kiểu sống chạy trên mặt đất, ƣa sống ở các khu vực ít cây cối và khô cằn. Thịt nhông cát có vị ngọt, mặn, mùi thơm, tính bình, không độc, có tác dụng bồi bổ, giảm đau, kích thích tiêu hóa, tiêu độc, làm khô vết thƣơng, có giá trị dinh dƣỡng cao (Nguyễn Lân Hùng, 2010)[17]. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do sự phát triển mạnh của hệ sinh thái nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, các khu du lịch cùng với tình hình khai thác ngày một gia tăng dẫn đến số lƣợng nhông cát bị suy giảm đáng kể. Các công trình nghiên cứu về loài và phân loài trong giống Leiolepis còn tƣơng đối ít, chỉ có một số nghiên cứu về hình thái và phân bố địa lý nhƣng chƣa đầy đủ (Trần Tình, 2015)[49].
Riêng loài nhông cát tại tỉnh Bình Thuận, một số nghiên cứu, báo cáo chƣa thể hiện đầy đủ và chính xác về đặc điểm hình thái và sinh thái của chúng. Theo số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bình Thuận (2016), toàn tỉnh có hơn 5.700 hộ nuôi nhông với diện tích gần 100 ha, chủ yếu tận dụng cồn, bãi cát khô hạn, nhông cát sống tập trung chủ yếu tại huyện Bắc Bình. Đây là vùng có điều kiện khí hậu vốn khắc nghiệt nhƣng rất thuận lợi cho sự phát triển của nghề nuôi nhông cát, góp phần tăng thêm thu nhập cho ngƣời dân địa phƣơng. 2 Nhằm góp phần hỗ trợ bảo tồn nguồn gen, làm cơ sở dữ liệu khoa học về loài nhông cát Leiolepis guttata (Cuvier, 1829), là một trong 9 loài nhông cát của thế giới, thông qua đó hiểu rõ các đặc tính sinh học và sinh thái của nhông cát, hỗ trợ phát triển nghề nuôi nhông cát tại huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận trong điều kiện bán hoang dã, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh thái của nhông cát Leiolepis guttata (Cuvier, 1829) trong điều kiện bán hoang dã tại huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận”.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Cung cấp dẫn liệu khoa học để nhận diện loài Nhông cát dựa trên màu sắc cơ thể, các tính trạng hình thái, thành phần loại thức ăn đang đƣợc nuôi tại huyện Bắc Bình để đề xuất công tác bảo tồn trong điều kiện bán hoang dã. ĐỐI TƢỢNG V PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tƣợng: nhông cát Leiolepis guttata con, hậu bị và trƣởng thành. Phạm vi nghiên cứu: thôn Hồng Chính, xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. Ý NGHĨA KHOA HỌC V THỰC TIỄN CỦA ĐỀ T I Ý nghĩa khoa học - Bổ sung dẫn liệu về đặc điểm hình thái: màu sắc cơ thể, các đặc điểm tính trạng kích thƣớc, các đặc điểm tính trạng số lƣợng về nhông cát L.
- Bổ sung dẫn liệu về đặc điểm sinh thái: tập tính sinh học, hoạt động ngày và mùa, đặc điểm dinh dƣỡng của nhông cát L. guttata trong điều kiện bán hoang dã. Ý nghĩa thực tiễn - Cung cấp cơ sở khoa học để đề xuất công tác bảo tồn loài nhông cát trong điều kiện bán hoang dã nhằm hỗ trợ phát triển nghề nuôi nhông cát tại Bình Thuận, đồng thời góp phần bảo vệ vốn gen loài đặc hữu của Việt Nam. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU GIỐNG NHÔNG CÁT Leiolepis 1.
Tình hình nghiên cứu giống nhông cát Leiolepis trên thế giới Theo Vitt et Caldwell (2014)[52], Trần Tình và cộng sự (2015)[49], nhông cát Leiolepis guttata (Cuvier, 1829) thuộc giới Animalia (Động vật); ngành Dây sống Chordata; phân ngành có xƣơng sống Vertebrata; phân thứ ngành Động vật có hàm Gnathostomata; động vật 4 chân trên lớp Tetrapoda; lớp bò sát Reptilia; phân lớp hai cung Diapsida; phân thứ lớp thằn lằn đốt sống mỏng Lepidosauromorpha; trên bộ đốt sống mỏng Lepidosauria; bộ có vảy Squamata; phân bộ thằn lằn Sauria; họ nhông Agamidae; phân họ Leiolepidinae và giống Leiolepis. Những công trình nghiên cứu về loài và phân loài trong giống Leiolepis trên thế giới còn tƣơng đối ít, chủ yếu các công trình nghiên cứu về hình thái và phân bố địa lý. Năm 1845, trong “Catalogue of the Lizards in the British Museum” Gray gọi là Leiolepis belliana. Năm 1864, trong “Reptile of the British India” Gunther gọi là Leiolepis guttata.
Một số công trình nghiên cứu về hình thái, phân bố và phân loại của loài nhông cát: Smith (1943)[43] mô tả Leiolepis belliana ở Ấn Độ, Miến Điện, Sri Lanca. Pope (1935)[41] trình bày khóa phân loại để xác định các giống trong họ Agamidae ở Trung Quốc và các loài thuộc giống Leiolepis, trong đó có loài Leiolepis belliana belliana Gray. Loài này phân bố ở khu vực Đông Nam Á từ Nam Miến Điện đến quần đảo Sumatra. Ở Trung Quốc, gặp loài này ở Quảng Châu, Quảng Đông, Hải Nam.
và cộng sự (2014)[35] thì hiện nay giống nhông cát Leiolepis trên thế giới có 9 loài, trong đó có năm loài lƣỡng tính gồm Leiolepis belliana Gray 1827; Leiolepis guttata Cuvier 1829; Leiolepis ocellata Peters, 1971; Leiolepis peguensis Peters 1971; Leiolepis reevesii 4 Gray 1831 và bốn loài đơn tính gồm Leiolepis boehmei [lƣỡng bội (Aranyavalai và cộng sự, 2004)] Darevsky & Kupriyanova 1993; Leiolepis guentherpetersi [tam bội (Darevsky & Kupriyanova 1993)]; Leiolepis ngovantrii [kiểu nhân chƣa biết (Grismer & Grismer, 2010)]; Leiolepis triploida [tam bội (Peters, 1971)]. Các loài này phân bố ở phía nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cambuchia, Myanma, Thái Lan và Indonesia. Tất cả các loài trong giống Leiolepis đều có kích thƣớc vừa phải (chiều dài từ mõm tới lỗ huyệt lớn nhất là 18cm), ăn tạp và sống ở ven biển, thảo nguyên bằng phẳng với đất lỏng lẻo. Chúng đào những hang dài có ngách làm nơi trú ẩn (Taylor, 1963; Peters, 1971; Cox và cộng sự, 1998; Grismer & Grismer, 2010).
Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng (2005)[18] cho biết Việt Nam ghi nhận có 5 loài nhông cát (trong đó có 1 loài mới tên Leiolepis ngovantrii phát hiện vào năm 2010) đƣợc sắp xếp theo thứ tự gồm: Leiolepis belliana (Gray, 1827) phân bố ven biển từ tỉnh Thanh Hoá đến tỉnh Cà Mau và Gia Lai; Leiolepis guentherpetersi (Darevsky et Kupriyanova, 1993) phân bố ở vùng ven biển từ tỉnh Thừa Thiên-Huế đến tỉnh Quảng Ngãi; Leiolepis guttata (Cuvier, 1829) phân bố ở các vùng ven biển từ tỉnh Thừa Thiên-Huế đến Bình Thuận; Leiolepis reevesii (Gray, 1831) phân bố ở vùng ven biển từ tỉnh Thanh Hoá đến tỉnh Kiên Giang và tỉnh Gia Lai; Leiolepis ngovantrii (Grismer et Grismer, 2010) đƣợc phát hiện năm 2010 tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Patrick David, Ivan Ineich (2009)[39] mô tả lại các loài nhông cát tại Đông Dƣơng, ghi nhận sự hiện diện của L. Theo Cao Tiến Trung (2009)[2] thì một số công trình nghiên cứu về nhông cát khác trên thế giới có thể kể đến nhƣ: Bourret R. và cộng sự (1992, 1997); Chan-ard T.
và cộng sự (1999); Zhao E. và cộng sự, (1963); Ziegler T., và cộng sự (2013); Ananjeva N.-B và cộng sự (2007). Tình hình nghiên cứu giống nhông cát Leiolepis tại Việt Nam Trong những năm gần đây, tình hình khai thác, buôn bán ở Việt Nam đang ngày một gia tăng dẫn đến danh sách các loài động vật hoang dã sắp bị tuyệt chủng tăng lên một cách đáng kể (Ngô Đắc Chứng và Phạm Văn Thƣơng, 2013)[14]. Hiện nay, Việt Nam có 418 loài động vật đang bị đe dọa ngoài thiên nhiên, tăng 167 loài (trong số đó, có 116 loài động vật rất nguy cấp) so với năm 1992 (Sách đỏ Việt Nam, 2007).
Theo báo cáo của Nguyen N. và cộng sự (2018)[38] với IUCN thì Nhông cát lƣng đốm Leiolepis guttata đƣợc đánh giá là thiếu dữ liệu (Data Deficient) do không chắc chắn về quy mô và nghi ngờ suy giảm, thiếu sự khảo sát quần thể cũng nhƣ có sự nhầm lẫn về mức độ xuất hiện tự nhiên và diện tích trú ngụ. Hiện vẫn đang thiếu các dẫn liệu về áp lực liên tục từ việc săn bắt và phát triển, thiếu dẫn liệu cho thấy diện tích cƣ trú thực tế của loài này thấp hơn nên chƣa thể đảm bảo liệt kê trong danh mục các loài bị đe dọa. Leiolepis guttata xuất hiện ở Việt Nam, đƣợc ghi nhận ở Thừa Thiên Huế (Thuận An, Hƣơng Phú và Phú Lộc), Đà Nẵng (Sơn Trà), Bình Định (Quy Nhơn), Khánh Hóa (Nha Trang), Ninh Thuận (Tháp Chàm, Ninh Hải và Vƣờn quốc gia Núi Chúa), Bình Thuận (Hòa Thắng và Mũi Né) (Nguyễn và cộng sự 2009, Geissler et al.
2011) và tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu Phƣớc Bửu, Bà Rịa Vũng Tàu (Grismer và Grismer 2010). Hiện nay chúng đƣợc nuôi rộng rãi ở Bình Thuận và Ninh Thuận hòa lẫn với quần thể hoang dã (N. Leiolepis guttata tại Bình Thuận đang bị nghi ngờ giảm dần dựa trên các quan sát về mức độ khai thác, tăng 70% trong giai đoạn 2004 – 2009 (Rochette và cộng sự, 2015). Mặc dù có sự suy giảm trong điều kiện hoang dã và loài này đƣợc nuôi làm thƣơng phẩm (Rochette và cộng sự, 2015) nhƣng vẫn chƣa đủ dữ liệu xác định tốc độ suy giảm (N.
Bourret (1943)[32] đã ghi nhận một loài nhông cát Leiolepis belliana gồm 2 phân loài ở Việt Nam (Leiolepis belliana belliana và Leiolepis belliana guttata) khác nhau về số lƣợng lỗ đùi mỗi bên, mẫu vật thu đƣợc tại Quảng Trị và Nha Trang. Nhông cát Leiolepis belliana phân bố ở Nam Miến Điện, 6 Thái Lan, Đông Dƣơng, Đảo Hải Nam, Nam Trung Quốc, Malaysia và Sumatra. Ở Việt Nam, loài nhông này phân bố ở Cù Lao Chàm, Nha Trang, Quảng Trị. Theo Đào Văn Tiến (1979)[4] cho biết ở Việt Nam trong số 17 loài thuộc họ Agamidae có 2 phân loài nhông là Leiolepis belliana belliana và Leiolepis belliana guttata.
Trần Kiên và cộng sự (1981)[21] đã thu mẫu và xác định Leiolepis belliana phân bố ở Hà Tỉnh và Vĩnh Linh (Quảng Trị). Từ năm 1986 đến năm 1994, Ngô Đắc Chứng đã nghiên cứu về hình thái và sinh thái học của nhông cát tập trung vào loài Leiolepis belliana belliana Gray, ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Ngô Đắc Chứng và cộng sự đã đƣa ra một số dẫn liệu về 2 loài phụ nhông cát Leiolepis belliana belliana và Leiolepis belliana guttata ở Nam Bình Trị Thiên và phân tích các đặc điểm hình thái và sinh thái 2 phân loài này (Ngô Đắc Chứng, 1991)[10]. (1993) [33] xác định phân bố loài Leiolepis reevesii ở đảo Hải Nam, Trung Quốc, Việt Nam.