Chương 1 TÔNG QUAN 1. Tổng quan về bò sát 1. Phan loại Bò sát đã xuất hiện trên trái đất từ cách đây hơn 300 triệu năm. Trải qua nhiều quá trình tiến hóa, tính đến thang 12 năm 2019 có 11.136 loài còn tồn tại (Jacobson và Garner, 2021) thuộc Lớp Bò sát (Reptilia) và được chia làm 4 bộ như sau: - Bò sát gai lưng (Rhynchocephalia): hầu như đã tuyệt chủng hơn 65 triệu năm và chỉ còn lại 2 loài Tuatara (Sphenodonunctatus), có ngoại hình khá giống than lăn.
- Bộ rùa (Testudinata): là nhóm bò sát cổ đại nhất còn tồn tại, gồm 14 họ và hơn 351 loài rùa cạn và rùa nước. Rùa có 2 phân bộ là rùa cô bên (Pleurodira) và rùa cô rut (Cryptodira). - Bộ cá sấu (Crocodylia): gồm 3 họ Alligatoridae, Crocodylidae va Gavialidae; ít khi được nuôi làm thú cưng vì kích thước to và khó thuần hóa. Đặc điểm sinh học Theo Võ Đình Sơn (2020), đặc điểm chung của lớp bò sát là loài có xương sống, cơ thê được bao phủ bởi lớp vảy sừng, tim có 3 ngăn (trừ cá sấu có 4 ngăn) và có hệ tĩnh mạch cửa thận, không có cơ hoành nên chỉ có một xoang cơ thể, là loài biến nhiệt với thân nhiệt thay đôi theo môi trường, đẻ trứng trên cạn và chôn trứng dưới dat dé ấp, lỗ huyệt là lỗi ra chung của hệ tiêu hóa - tiết niệu - sinh dục (Hình 1.
` Ngăn Cuối (Proctodeum) Lỗ huyệt (Cloaca) Mặt Bàing Bàng quang Hình 1. Cấu tạo cơ thé học lỗ huyệt của than lằn (Nguồn: Holz, 2020) 1. Chăm sóc và quản lý Bò sát đòi hỏi nhiều yếu tố vật lý trong không gian sinh sống, gồm nhiệt độ. độ 4m, ánh sáng, thời gian chiếu sang, sự lưu thông không khí,.
Vì là loài biến nhiệt, cơ thé bò sát không ồn định được nhiệt độ. Ở nhiệt độ thấp, phản ứng miễn địch của bò sát sẽ xảy ra chậm vì ít sản xuất kháng thể, lượng máu trong tuần hoàn nhiều hơn ở ngoại vi. Do đó, khi gặp phải yếu tố gây bệnh, bò sát có xu hướng tìm môi trường có nhiệt độ cao hơn, tạo ra “phản ứng sốt” đề kích thích hệ miễn dich của co thé hoạt động. Mỗi loài có một nhiệt độ cơ thé ưa thích (preferred body temperature — PBT), mà ở nhiệt độ đó chúng có thé tiêu hóa thức ăn, đề kháng bệnh và điều hòa hoạt động cơ thé một cách tốt nhất.
Vì vậy, môi trường sinh sống ngoài tự nhiên của từng loải sẽ có khoảng nhiệt độ tối ưu ưa thích (preferred optimum temperature zone — POTZ) hay còn gọi là khoảng nhiệt độ thuận lợi (preferred optimum temperature range — POTR) (Bảng 1. Bò sát rat cần ánh sáng mặt trời tự nhiên bao gồm các bước sóng khác nhau (UVA: 320 — 400 nm, UVB: 290 - 320 nm) dé chuyển hóa và tổng hợp các chat, nhất là vitamin D3. Các loại ánh sáng nhân tạo trong chuồng nuôi có thể bị giảm cường độ do vật liệu chuồng, khoảng cách và thời gian sử dụng. Số giờ chiếu sáng phụ thuộc vào vị trí vĩ độ và chu kì sáng tối của nơi mà chúng phân bó.
Khi nuôi bò sát, ngoài cảnh quan hợp lý cần phải bố trí nhiều nơi trú an. Vị trí trú an cho phép bò sát lựa chọn không gian khác đề nghỉ ngơi khi không kiếm ăn, giúp chúng giảm căng thắng, thoải mái và cảm thay an toan. Nhiệt độ và độ 4m tối ưu của một vài loài bò sát (Longley, 2008) Giống loài Khoảng nhiệt Độẩm Chế độ 8 thuận lợi °C) (%) ăn Rua Châu Phi ‘ (Geochelone sulcata) ai He 40-75 Thục vật Rùa hộp 21-27 (đêm > 15, x (Terrapene carolina spp.) phoi nang 27 - 32) a sind Rua bao - Leopard tortoise é (Geochelone pardalis) 23-33 HH ee Rua tai do : (Trachemys scripta elegans) — 60 - 90 ước: Kỳ tôm/ rồng đất ă (Physignathus concincinus) ave BÚ 80-90 Thực vậi TPHD ÔNG THỜ) Rese a (iguana iguana) 25 - 35 75-100 Thực = vật Ky da Savannah ¬ (Varanus exanthematicus) lilies 25-30 Con teins Tac ké da bao - Leopard gecko ¬ (Eublepharis macularius) sou an CẤU. Con DU Rồng Uc - Bearded dragon 25 —35 x (Pogona vitticeps) (phơi nang 38 — 42) 30-40 An tap Tac ké hoa - Veiled chameleon — (Chamaeleo calyptratus) on ae đổi at ean Tran dat - Burmese python x : (Python molurus) ao = ae a0 = 80 An thịt Ran ngô - Corn snake X.
(ileal auitnail 25 - 30 30 - 70 An thit Ran vua - Kingsnake spp. 25 - 30 30 - 70 Ka that (Lampropeltis spp.) Nếu can phải vận chuyén bò sát, cần chuẩn bị những bề thủy sinh bang nhựa vừa với kích thước cơ thể chúng, có nắp đậy và bản lề phía trên vì bò sát có thể thoát ra từ những khe hở nhỏ nhất. Luôn phải nhẹ nhàng vì loài bò sát có thể phản kháng, tự gây ton thương mô hoặc các vết bam tim cho bản thân. Lưu ý rằng không bao giờ được cam năm ở phân đuôi của các loài than lăn vì chúng có thê bị đứt lia.
Một sô loài có thê siết, cào, căn, thậm chí truyén noc độc. Cơ thé hoc than lan Ngoài việc không có xương ức, các cấu trúc xương của than lan tương đối giống với các loài động vật có xương sống khác. Than lan tải đều trong lực lên 4 chân nhưng cũng có một số loài có thé chạy bằng 2 chân. Đa số than lan có lớp da day, có vảy và phát triển bang cách lột da, một số loài có thé thay đổi màu da (tắc kè hoa có thé thay đổi sắc tố trong da, giúp ngụy trang).
Không có cơ hoành nên quá trình thở được thực hiện bằng cách mở rộng và co lại của các xương sườn. Hầu hết thằn lằn có răng hình nón đơn giản, không nhai thức ăn mà xé thành những miếng nhỏ rồi nuốt. Giống các loài bò sát khác, đường tiêu hóa kết thúc bằng lỗ huyệt, hầu hết đều có bàng quang. Con đực có đôi cơ quan giao cau nhưng khi giao cau chỉ bơm đầy máu và sử dụng một cái để đưa vào bên trong con cái.2) có 2 buồng trứng và ống dẫn trứng, không có tử cung (Aspinall và Cappello, 2020).
\ Buồng trứng „ Động Lãnh. mach 3€ Tam nhi chu ~~ « Voi trứng trai. phổi Tam nhi phai Niéu quan Ruột gia Tam that = Lô huyệt Da day Bàng quang or) Tuy Ta trang Hình 1. Giải phẫu co thé học của than lan (Nguồn: Divers va Stahl, 2019) Nhiều than lằn có tập tính tự cắt lia đuôi khi cảm nhận được mối đe dọa.
Có một mặt phang đứt gãy chưa được xác định ở vùng giữa của đốt sống đuôi. Mặt phang nay sẽ tách đuôi ra khỏi cơ thê khi than lằn cảm nhận được mối nguy hiểm. Phần đuôi đứt ra sẽ vặn vẹo điên cuồng để thu hút sự chú ý của kẻ địch, tạo thời cơ cho than lan tron thoát. Vét thương do tự cắt đuôi không cần phải can thiệp xử lý vi chúng có thé tự lành và tái tạo đuôi mới.
Phương pháp phân biệt giới tính than lan Ngoại hình của các loài than lăn có sự khác biệt về giới tính khi trưởng thành. Con lằn đực có các gai đùi nồi rõ hơn con cái (Hình 1. Gốc đuôi bên dưới lỗ huyệt của con đực sưng to ở hai bên vì phải chứa đôi dương vật. Gai đùi phát triển ở cự đà Nam Mỹ đực (Nguồn: Sirois, 2016) 1.
Cơ thé học rắn Rắn có phần thân thuôn dài và không có chân (một số ít còn vết tích của các chi trước xương chậu). Hộp sọ đặc biệt với xương hàm trên và hàm dưới nối với nhau bằng dây chang cho phép rắn há miệng một góc rộng khi nuốt con môi. Số lượng đốt sống từ 150 — 400 tùy loài và đều có hình dạng giống nhau. Mỗi đốt sống hợp nhất với một cặp xương sườn, nhưng không liên kết với đường giữa bụng, cũng không có xương ức.
Các vảy ngoài da thay đổi tùy theo từng vùng của co thé, phần lung va phần bên có vảy nhỏ hơn, bề mặt bung có vay to dày và cứng hơn. Tại thời điểm lột da, lớp da cũ sẽ có màu xin hơn và dan bong tróc ra khỏi cơ thể. Tim ran cũng có 3 ngăn, thường nằm ở khoảng 1/3 chiều dài cơ thể tinh từ đầu. Hau hết phối trai của các loài ran bi giảm kích thước hoặc tiêu biên, chi phân trước của phôi có chức năng hô hấp, phần sau như một túi khí dự trữ.
Tất cả các loài rắn đều ăn thịt và có hàng răng được thay liên tục trong suốt quá trình sống. Rắn không có bàng quang (Aspinall và Cappello, 2020) nên nước tiêu từ niệu quản đồ thắng vào xoang niệu-dục ra lỗ huyệt. Rắn đực có đôi dương vat, con cái chỉ có 1 ống dẫn trứng và 1 buồng trứng (Hình 1. Lưỡi Túi mật Buồng trứng Ruột non Vòi trứng trái Tuyến thượng thận Túi khí phải Khí quản Lỗ huyệt Thực quản Ngăn cuối Tuyến ức Nhú tiết niệu Ẻ Ngăn chứa Tuyên nước tiêu ere Nhú sinh duc Tuyén giap.
3s Ngan chứa Tam nhi h phải phân Tâm that Manh tràng Tĩnh mạch chủ Phối phải Gan Hình 1. Giải phẫu cơ thê học của rắn (Nguồn: Divers và Stahl, 2019) 1. Phương pháp phân biệt giới tính rắn Dựa vào hình dạng đuôi và sự nổi lên của đôi dương vật ở gốc lỗ huyệt dé phân biệt giới tính. Một số ran cái có kích thước cơ thể to hơn rắn đực.
Ngoài quan sát bên ngoài, có thé thăm dò giới tính bằng cách đưa 1 đầu đò bằng kim loại hoặc nhựa dẻo. Bôi trơn đầu đò rồi đưa vào cơ thé rắn qua lỗ huyệt về phía dau, từ từ nâng đầu dò hướng theo 2 bên đề đưa đầu dò vào xoang chứa dương vật (Hình 1. Đếm số lượng vảy tương ứng với chiều dai của que dò tính từ lỗ huyệt. Con đực thường dai hơn 7 vay, con cái thường nhỏ hơn 5 (Sirois, 2016).
Lớp vỏ cứng bên ngoài là điểm đặc trưng nhất của rùa. Phần vỏ trên cứng và cong như hình vòm gọi là mai (carapace), phần vỏ dưới bụng phẳng hơn gọi là yém (plastron). Vỏ được tạo thành nhờ sự liên kết của các cầu xương, như một chiếc hộp bằng xương bảo vệ các bộ phận mềm bên trong cơ thể. Cấu trúc của vỏ gồm các phiến hoặc vảy sừng, được đặt tên theo phần xương gắn kết với nó.
Hàng năm, vảy to ra theo chu vi vòng ngoài làm tăng tổng diện tích của từng vảy (Hình 1. Ở một số loài, những vòng tăng trưởng này có thể được sử dụng đề ước tính độ tuổi, nhưng không đáng tin cậy vì quá trình phát triển vỏ có thể bị ảnh hưởng do hàm lượng dinh dưỡng, thay đổi hành vi theo mùa và chế độ ngủ đông.