ĐẶT VẤN ĐỀ Theo báo cáo của WHO năm 2018, bỏng là một vấn đề sức khỏe cộng đồng toàn cầu, ước tính khoảng 180.000 ca tử vong hàng năm do bỏng. Phần lớn trong số này xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình và gần 2/3 xảy ra ở khu vực Châu Phi và Đông Nam Á. Ở nhiều nước có thu nhập cao, tỷ lệ tử vong do bỏng ngày càng giảm, và tỷ lệ trẻ em tử vong do bỏng hiện đang cao hơn 7 lần ở các nước có thu nhập thấp và trung bình so với các nước có thu nhập cao. Bỏng không gây tử vong, nhưng là nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh tật, bao gồm nhập viện kéo dài, biến dạng và tàn tật, thường dẫn đến bị kỳ thị và từ chối.
Bỏng là một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến số năm sống được điều chỉnh theo khuyết tật (DALYs) bị mất ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. “Năm 2004, gần 11 triệu người trên thế giới bị bỏng nặng đến mức cần được chăm sóc y tế” theo thống kê của WHO. Trên thực tế, số bệnh nhân bỏng đang có xu hướng gia tăng cao theo từng năm ở các khu vực, lãnh thổ khác nhau. Bỏng để lại hậu quả nặng nề về tính mạng, sức khoẻ, chức năng, thẩm mỹ cho nạn nhân, để lại gánh nặng về tinh thần và kinh tế cho gia đình nạn nhân và xã hội [30].
Ở Việt Nam, số bệnh nhân do tai nạn bỏng đứng hàng thứ hai chỉ sau tai nạn giao thông với 15.000 bệnh nhân hàng năm [5]. Trong điều trị bỏng, kết hợp hai nền y học hiện đại và y học cổ truyền. Ngoài việc sử dụng các thuốc hóa dược để điều trị như kem silver sulfadiazine 1%, kháng sinh dạng dung dịch hoặc mỡ, cream như dung dịch penicillin G 0,25%, neomycin 0,4%, mỡ gentamycin, tetracyclin, erythromycin, thuốc kết hợp dạng phun như oxycort (kết hợp hydrocortisol với tetracylin), dạng cream như neocimex, cidermex…thì hiện có nhiều nghiên cứu khoa học đã được ứng dụng đưa vào sử dụng để điều trị bỏng bằng các tác nhân có nguồn gốc từ dược liệu có khả năng kháng viêm, điều trị bỏng điển hình như B67 với thành phần chính là bột vỏ cây Xoan trà, mỡ Maduxin chế từ lá Sến, thuốc Cream Dampomad từ bài thuốc mỡ cao vàng, thuốc mỡ Eupolin từ cao lá cỏ Lào [29]. Bìm ba răng (Merremia tridentata L.) là một cây thuốc dân gian quý nhưng chưa có nhiều nghiên cứu.
Các nghiên cứu trong nước còn rất hạn chế, chủ yếu là xác định thành phần hóa học có trong cây. Các công trình nghiên cứu cho thấy cao chiết Bìm ba răng 2 có tác dụng giảm đau, kháng viêm rất tốt, làm hạ đường huyết đáng kể ở chuột tăng đường huyết gây bởi streptozotocin, có khả năng phục hồi vết mổ, làm lành vết thương [11]; hiện chưa có nghiên cứu nào chứng minh Bìm ba răng có tác dụng điều trị bỏng, làm nhanh quá trình liền vết thương bỏng. Berberin là một isoquinolon alkaloid phân lập từ các dược liệu như Vàng đắng (Coscinium fenestratum), Hoàng bá (Phellodendron amurense), Hoàng liên (Coptis chinensis); có nhiều tác dụng dược lý như trị tiêu chảy kháng khuẩn, kháng viêm [31]. Theo kinh nghiệm dân gian lá tươi BBR có hoạt tính kháng viêm tốt, đặc biệt là các viêm cấp tính ngoài da, còn berberin là hoạt chất có khả năng kháng khuẩn phổ rộng và cũng có tác dụng kháng viêm; do đó sự kết hợp 2 thành phần này trong một chế phẩm dùng ngoài giúp tăng tính hiệp lực trong hiệu quả điều trị các bệnh lý viêm nhiễm ngoài.
Từ những lí do trên, đề tài “Nghiên cứu tác dụng điều trị bỏng của chế phẩm gel berberin và dịch chiết tươi Bìm ba răng (Merremia tridentata L.) trên mô hình gây bỏng thực nghiệm” được thực hiện với mong muốn tìm hiểu thêm về tác dụng điều trị bỏng của dược liệu Bìm ba răng và tạo ra một sản phẩm từ thiên nhiên trong ứng dụng điều trị bỏng. Đề tài được thực hiện với các mục tiêu sau: - Nghiên cứu điều chế, khảo sát công thức chế phẩm gel chứa berberin và dịch chiết tươi Bìm ba răng; - Gây bỏng nhiệt trên chuột và đánh giá tính khả dụng của mô hình bằng các biện pháp can thiệp tại chỗ đối với việc chữa lành vết thương bỏng do nhiệt trên chuột; - Đánh giá tác dụng kháng khuẩn chống viêm của gel chứa berberin và dịch chiết tươi Bìm ba răng trên vết bỏng thực nghiệm do nhiệt; - Theo dõi, đánh giá hiệu quả điều trị tại chỗ của gel chứa berberin và dịch chiết tươi Bìm ba răng trên vết bỏng thực nghiệm do nhiệt. 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TỔNG QUAN VỀ DƯỢC LIỆU BÌM BA RĂNG 2.
Mô tả thực vật Tên Việt Nam: Bìm ba răng (BBR), Dây lưỡi đòng. Tên khoa học: Merremia tridentata L. Theo hệ thống phân loại của Armen Takhtajan, cây BBR có vị trí sắp xếp như sau: Hình 2. Vị trí phân loại Merremia tridentata L.
Theo sách từ điển cây thuốc Việt Nam xuất bản năm 2018, TS Võ Văn Chi mô tả BBR: cây leo thuộc thảo, không quấn. Thân mịn, không lông. Lá hẹp, gốc hình tim và có 2 tai ở hai bên, mỗi tai có 3 răng. Cụm hoa gồm 1- 2 hoa.
Hoa màu vàng sữa, với trung tâm đỏ; lá đài bằng nhau; nhị dính gần gốc, quả nang cao 7 mm, hạt không có lông [9]. Phân bố sinh thái Cây mọc rải rác ven rừng, ven đường, trên sân cỏ, trên cát từ vùng thấp đến độ cao 500 m. Ra hoa hầu như quanh năm. Phân bố ở Việt Nam, có gặp từ Cao Bằng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Ninh Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng vào Khánh Hòa, thành phố Hồ Chí Minh.
Còn có ở Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia [9]. Thành phần hóa học BBR được báo cáo có chứa một số flavonoid quinon, phenolic acids, tanins, saponins, p-hydroxy benzoic acid, vanillic acid, và syringic acid [16]. Năm 2012, Tsita Tzardi đã xác định được cấu trúc hóa học của một số flavonoid đó là diosmetin, luteolin, diosmetin-7-O-β-D-glucosid và luteolin-7-O-β-D-glucosid [15]. Theo một nghiên cứu khác cho thấy sự hiện diện của ergosin phân lập từ hạt và các pyrolidin alkaloid như hygrin và nicotin phân lập từ rễ và phần trên mặt đất của BBR [19].
Năm 2012, Arunachalam và cộng sự, dùng phương pháp sắc ký lớp mỏng, đã chỉ ra rằng có sự tồn tại của sáu hợp chất phenol và hai hợp chất flavonoid trong dịch chiết axeton từ rễ cây BBR. Một nghiên cứu, đã phân lập được 5 flavonoid, trong đó có 3 flavonoid lần đầu tiên được phân lập từ dược liệu BBR đó là apigenin, quercitin-3-O-L-rhamnosid (quercitrin) và apigenin-7-O-β-D-glucosid (apigetrin); 2 flavonoid còn lại là luteolin và luteolin-7-O-D-glycosid (cynarosid) [6]. Từ đó có thể thấy flavonoid là nhóm chất chính hiện diện trong cây BBR. Luteolin-7-O-D-glycosid (1) và quercitin-3-O-L-rhamnosid (2) được phân lập từ BBR.
Luteolin (3) và (4) apigenin được phân lập từ BBR. Apigenin-7-O-β-D-glucosid (5) được phân lập từ BBR. Tác dụng dược lý Dược liệu BBR đã được ứng dụng rất rộng rãi trong y học dân gian trong và ngoài nước, sử dụng như một bài thuốc dân gian từ rất xa xưa. Ở Ấn Độ, BBR được dùng để chữa thấp khớp, liệt nửa người, trĩ; người dân Campuchia dùng để chữa đau nhức xương khớp [9].
Ở Nigeria, BBR được dùng để chữa bệnh lậu; ở một số vùng của Châu Phi, người dân dùng nước ngâm của lá BBR để chống nọc độc của rắn; BBR còn là thành phần trong nước sắc để súc miệng chống nhiễm khuẩn Candida ở miệng và ống tiêu hóa tại Togo; ở Malaysia, người dân dùng lá BBR đắp lên đầu khi bị sốt. BBR còn được sử dụng làm thức ăn bổ sung protein cho cừu lùn Tây Phi [10]. Ở nước ta, nhân dân An Giang sử dụng BBR phối hợp với các vị thuốc khác dùng chữa sốt rét và chữa ban xuất huyết, người Bình Định sử dụng lá tươi BBR để trị bệnh dời leo. Từ những tác dụng theo dân gian, các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu bằng thực nghiệm và cho những kết quả rất khả quan về tác dụng sinh học của BBR [9].
Tác dụng giảm đau, kháng viêm Năm 2013, Mohamed, S. chiết xuất Soxhlet bột dược liệu BBR bằng ete dầu hỏa, chloroform, aceton, và methanol. Các dịch chiết sau đó được cô đặc bằng máy cô quay chân không. Các cắn được hòa tan lại với dung môi tương ứng để được nồng độ 1 mg/ml và mang đi thử tác dụng giảm đau trên mô hình “hot plate test” và “Writhing test” trên chuột, thử tác dụng kháng viêm trên mô hình phù chân cấp gây ra bởi histamin trên chuột nhắt.
Kết quả cho thấy dịch chiết aceton của rễ M. tridentata cho tác dụng giảm đau và kháng viêm tốt nhất. Bằng phương pháp HPTLC phát hiện được 6 hợp chất phenolic và 2 hợp chất flavonoid trong dịch chiết aceton [6]. 6 Năm 2015, Ganesan, V và các cộng sự cũng đã nghiên cứu tổng hợp các hạt nano bạc bằng cách sử dụng dịch chiết từ lá của BBR [17].
Syed Ismail tiến hành chiết bột dược liệu BBR với petroleum ether, benzen, cloroform, ethanol và nước. Thử tác dụng kháng viêm của các dịch chiết với 2 mô hình là gây phù bởi Carrageenan trên chuột và gây viêm khớp bởi chất phụ trợ của Freund. Indomethacin (10 mg/kg) được sử dụng làm thuốc đối chứng. Kết quả, các dịch chiết cồn của BBR đã cho thấy tác động đáng kể trong thử nghiệm viêm cấp tính, ở liều 100 mg/kg và 200 mg/kg dẫn đến sự ức chế tương ứng là 38,3% và 42,8% sau 3 giờ so với thuốc đối chứng là 48,5%.
Trong mô hình viêm khớp, dịch chiết ethanol với liều 100 mg/kg và 200 mg/kg cho thấy sự ức chế tương ứng là 49% và 51,7% sau 19 ngày khi so sánh với thuốc đối chứng (55,5%). Cả hai liều dịch chiết cồn của M. tridentata đều cho tác dụng kháng viêm và điều trị viêm khớp rất tốt [20]. Tác dụng chống oxy hóa, chống loét, làm lành vết thường Năm 2010, Kandhasamy Sowndhararajan, Jince Mary Joseph, Karuppusamy Arunachalam, Sellamuthu Manian, tiến hành nghiên cứu thành phần polyphenol và thử tác dụng chống oxy hóa từ các dịch chiết của BBR.
Kết quả cho thấy dịch chiết aceton của rễ và dịch chiết bằng nước nóng của phần trên mặt đất chứa hàm lượng polyphenol cao và cho tác dụng chống oxy hóa rất rõ [20]. Chin sử dụng rễ tươi của BBR ngâm 3 lần với aceton ở nhiệt độ phòng, rút dịch chiết aceton và bốc hơi thu được cao aceton, bã còn lại tiếp tục chiết với nước, ether dầu hỏa, ethyl acetate, n-butanol, các dịch chiết được cô bằng máy cô quay chân không. Thử tác dụng chống oxy hóa trên mô hình chứa DPPH và mô hình kiểm tra ABTS+. Kết quả cho thấy dịch chiết ethyl acetate cho tác dụng chống oxy hóa rất tốt [26].